Đòi lại đất cho mượn, ở nhờ: Căn cứ và cách giải quyết

Đòi lại đất cho mượn, ở nhờ: Căn cứ và cách giải quyết

Nghe bài viết · 14 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo

Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 04/11/2026 · Đọc 16 phút

Bạn có thể đòi lại đất đã cho mượn khi hết thời hạn hoặc xuất hiện căn cứ yêu cầu trả trước hạn. Điều 494 và Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015 là cơ sở xem xét. Với đất cho ở nhờ, cần làm rõ thỏa thuận thực tế, quyền sử dụng đất và lý do bên đang ở tiếp tục giữ đất.

Khi nào cần thuê luật sư hỗ trợ đòi lại đất đã cho mượn, cho ở nhờ, sử dụng?

Bạn nên cân nhắc nhờ luật sư khi bên đang sử dụng phủ nhận việc mượn, không đồng ý trả đất hoặc đưa ra giấy tờ thể hiện quyền của họ. Luật sư có thể giúp phân tích thỏa thuận, sắp xếp tài liệu và xác định yêu cầu cần đưa ra.

Luật sư và chủ đất đứng cạnh hàng cọc gỗ ranh giới, cùng xem sơ đồ thửa đất
Cùng xem sơ đồ bên hàng cọc ranh giới thửa đất

Quyền sử dụng đất được hiểu trong bài là quyền của người sử dụng đối với thửa đất theo pháp luật đất đai. Khi phát sinh bất đồng, việc từng quản lý hoặc giao đất cho người khác chưa đủ để kết luận ngay bên nào có quyền yêu cầu giao trả.

Những tình huống cần rà soát kỹ gồm:

  • Việc giao đất chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không thống nhất rõ thời hạn.
  • Người đang ở cho rằng đất đã được tặng hoặc chuyển giao cho họ.
  • Các bên không thống nhất về diện tích, ranh giới hoặc nguồn gốc đất.
  • Bên mượn giao đất cho người khác tiếp tục sử dụng.
  • Trên đất có nhà, công trình hoặc tài sản mà các bên chưa thống nhất cách xử lý.

Đối với yêu cầu đòi lại đất, luật sư cần phân biệt tranh chấp về thỏa thuận cho mượn với tranh chấp về việc ai có quyền sử dụng. Sự phân biệt này giúp lựa chọn căn cứ và hướng giải quyết phù hợp, thay vì chỉ dựa vào cách gọi của một bên.

Đòi lại đất cho ở nhờ là gì và dựa vào căn cứ nào?

Đòi lại đất cho ở nhờ là việc người có quyền đối với đất yêu cầu bên đã được cho ở, sử dụng đất giao trả. Cách gọi “ở nhờ” chưa tự xác định đầy đủ quan hệ pháp lý; cần xem nội dung các bên đã thỏa thuận.

Quan hệ pháp lý là mối quan hệ có các quyền, nghĩa vụ được pháp luật điều chỉnh. Trong trường hợp cho sử dụng không phải trả tiền và có nghĩa vụ hoàn trả, cần đối chiếu khái niệm hợp đồng mượn tài sản tại Điều 494 Bộ luật Dân sự 2015.

Hợp đồng mượn tài sản là thỏa thuận giao tài sản để sử dụng không phải trả tiền trong một thời hạn, sau đó hoàn trả khi hết hạn hoặc mục đích mượn đã đạt được. Vì vậy, cần làm rõ việc giao đất để ở tạm, trông coi hay phục vụ một mục đích cụ thể.

Về quyền yêu cầu lấy lại tài sản, khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.”

Căn cứ: khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015.

Người yêu cầu đòi lại đất cần làm rõ cả quyền của mình và lý do bên kia không còn căn cứ tiếp tục sử dụng. Không nên coi giấy tờ về nguồn gốc đất là sự thay thế hoàn toàn cho tài liệu về thỏa thuận cho mượn.

Ngược lại, khoản 2 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 xác định chủ sở hữu không có quyền đòi tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó. Chiếm hữu được hiểu là việc nắm giữ, chi phối tài sản; do đó, cần kiểm tra căn cứ mà người đang giữ đất viện dẫn.

Khi nào có thể đòi lại đất cho ở nhờ?

Bạn có thể yêu cầu trả lại khi hết thời hạn mượn; nếu không thỏa thuận thời hạn, cần xem mục đích mượn đã đạt được hay chưa. Các trường hợp cần dùng tài sản cấp bách, sử dụng sai thỏa thuận hoặc tự ý cho mượn lại được xem xét theo Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015.

Năm trường hợp thường gặp có thể xem xét đòi lại đất cho ở nhờ
Các trường hợp thường gặp cần đối chiếu khi đòi lại đất

Căn cứ về việc lấy lại tài sản khi không có thời hạn hoặc phát sinh nhu cầu cấp bách được quy định như sau:

“Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.”

Căn cứ: khoản 1 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015.

Có thể đối chiếu các tình huống thường gặp như sau:

Tình huốngNội dung cần kiểm traHướng xem xét
Đã hết thời hạn mượnThỏa thuận về thời điểm giao trảĐối chiếu nghĩa vụ hoàn trả khi hết hạn
Không thỏa thuận thời hạnMục đích ban đầu và việc thực hiện mục đíchXem mục đích mượn đã đạt được chưa
Bên cho mượn cần dùng cấp báchNhu cầu đột xuất và việc báo trướcXem điều kiện lấy lại tài sản trước khi đạt mục đích
Bên mượn dùng sai thỏa thuậnMục đích, công dụng, cách thức sử dụngXem căn cứ yêu cầu trả tài sản
Bên mượn cho người khác mượn lạiSự đồng ý của bên cho mượnXem việc giao cho người khác có được chấp thuận không

Khoản 2 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép yêu cầu trả tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý.

Ví dụ minh họa (giả định): Người có quyền sử dụng đất cho người khác mượn để ở, không đồng ý cho mượn lại. Bên mượn sau đó giao đất cho người khác sử dụng. Người cho mượn có thể xem xét yêu cầu hoàn trả theo khoản 2 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015.

Nếu có thiệt hại đối với tài sản do bên mượn gây ra, bên cho mượn có quyền yêu cầu bồi thường theo khoản 3 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015. Yêu cầu này cần được phân biệt với yêu cầu giao trả đất.

Cần chuẩn bị những giấy tờ gì khi đòi lại đất cho ở nhờ?

Bạn nên chuẩn bị tài liệu thể hiện quyền đối với đất, việc giao đất cho ở nhờ và lý do yêu cầu hoàn trả. Danh mục dưới đây là gợi ý rà soát, không phải một bộ hồ sơ bắt buộc áp dụng cho mọi trường hợp.

Danh sách năm nhóm giấy tờ nên chuẩn bị khi đòi lại đất cho ở nhờ
Danh mục gợi ý rà soát, không bắt buộc cho mọi trường hợp

Chứng cứ là những thông tin, tài liệu được dùng để làm rõ sự việc và hỗ trợ yêu cầu của các bên. Trong tranh chấp, nên sắp xếp tài liệu theo từng nội dung cần chứng minh, thay vì chỉ tập hợp giấy tờ theo thời gian.

  1. Chuẩn bị giấy chứng nhận nếu có, giấy tờ về nguồn gốc đất và tài liệu thể hiện quá trình quản lý, sử dụng. Những giấy tờ này giúp làm rõ cơ sở của người yêu cầu giao trả.

  2. Tập hợp giấy cho mượn, giấy cho ở nhờ, thư từ, tin nhắn hoặc tài liệu ghi nhận việc trao đổi. Nội dung cần tìm là mục đích giao đất, thời hạn sử dụng và nghĩa vụ hoàn trả.

  3. Giữ lại yêu cầu trả đất và phản hồi của bên đang sử dụng. Nếu yêu cầu xuất phát từ nhu cầu đột xuất, cấp bách, nên chuẩn bị tài liệu giải thích nhu cầu và việc báo trước.

  4. Rà soát tài liệu về hiện trạng, diện tích, ranh giới và tài sản trên đất. Các bên cần xác định rõ phần đất đang yêu cầu trả, tránh mô tả chung chung.

  5. Chuẩn bị đơn yêu cầu hòa giải, biên bản hòa giải và các văn bản trao đổi trong quá trình giải quyết, nếu đã có.

Khi đòi lại đất không có giấy cho mượn, bạn nên tập trung tìm tài liệu phản ánh sự thừa nhận của bên đang sử dụng và người biết việc giao đất. Không nên tự kết luận rằng thiếu giấy cho mượn đồng nghĩa với mất quyền yêu cầu.

Bạn có thể đọc thêm bài về đất cho mượn lâu năm không có giấy tờ để đối chiếu các vấn đề cần rà soát trong hoàn cảnh tương tự.

Trình tự đòi lại đất nên thực hiện thế nào?

Bạn nên bắt đầu bằng việc xác định căn cứ, gửi yêu cầu trả đất và làm rõ phản hồi của bên đang sử dụng. Nếu phát sinh tranh chấp đất đai thuộc phạm vi Điều 235 Luật Đất đai 2024, cần lưu ý thủ tục hòa giải tại địa phương trước khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Hòa giải là việc các bên tìm cách thống nhất giải pháp với sự hỗ trợ của người hoặc cơ quan trung gian. Trình tự chuẩn bị có thể sắp xếp như sau:

  1. Xác định nội dung bất đồng. Bạn cần biết bên kia thừa nhận việc mượn nhưng chưa trả, hay phủ nhận hoàn toàn quyền của bạn. Đây là cơ sở lựa chọn yêu cầu và tài liệu cần bổ sung.

  2. Gửi yêu cầu giao trả. Văn bản nên mô tả phần đất, thỏa thuận ban đầu, lý do yêu cầu hoàn trả và đề nghị phản hồi. Nếu dựa vào nhu cầu đột xuất, cấp bách, việc báo trước phải phù hợp khoản 1 Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015.

  3. Thực hiện hòa giải phù hợp tính chất tranh chấp. Nhà nước khuyến khích các bên tự hòa giải và sử dụng các cơ chế hòa giải theo khoản 1 Điều 235 Luật Đất đai 2024.

  4. Chuẩn bị yêu cầu giải quyết nếu không thống nhất. Khởi kiện là việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền, lợi ích của mình. Trước khi thực hiện, cần kiểm tra điều kiện hòa giải và thẩm quyền.

Thẩm quyền là phạm vi quyền được pháp luật giao cho một cơ quan để giải quyết vụ việc. Việc gửi đúng nơi không thay thế yêu cầu phải trình bày rõ căn cứ, phần đất và nghĩa vụ đang đề nghị giải quyết.

Kinh nghiệm chuẩn bị là lập một bản tóm tắt diễn biến: đất có nguồn gốc thế nào, giao cho ai, để làm gì, khi nào phát sinh bất đồng và bên kia đang viện dẫn lý do gì. Bản tóm tắt cần tách sự kiện có tài liệu chứng minh khỏi nhận định chủ quan.

Hòa giải tại xã có bắt buộc trước khi khởi kiện không?

Đối với tranh chấp đất đai thuộc trường hợp khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, các bên phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Không nên áp dụng máy móc kết luận này cho mọi bất đồng chỉ vì có liên quan đến đất.

Hai người ngồi đối diện bên bàn gỗ trong phòng họp, giữa bàn có giấy trắng và bút
Hai bên trao đổi hòa giải tại bàn họp gỗ

Đối với yêu cầu đòi lại đất, cần làm rõ nội dung tranh chấp để xác định thủ tục phù hợp. Điều 235 Luật Đất đai 2024 cũng quy định ngoại lệ tại khoản 5 đối với địa bàn không thành lập đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Thời hạn hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, theo điểm c khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024.

Việc hòa giải phải lập thành biên bản, có chữ ký của các bên tham gia và xác nhận hòa giải thành hoặc không thành, theo điểm d khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024.

Nếu hòa giải không thành mà một hoặc các bên không ký, biên bản vẫn được xử lý theo điểm đ khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024: Chủ tịch Hội đồng và các thành viên ký, đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã, gửi cho các bên.

Trường hợp hòa giải thành có thay đổi ranh giới, diện tích hoặc người sử dụng đất, các bên phải gửi văn bản công nhận kết quả đến cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận văn bản, theo khoản 4 Điều 235 Luật Đất đai 2024.

Tòa án nào giải quyết và đất cho mượn lâu năm có còn yêu cầu được không?

Nếu đối tượng tranh chấp là bất động sản, chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ. Với tranh chấp về quyền sử dụng đất, thời hiệu khởi kiện không áp dụng theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015.

Bất động sản trong trường hợp đang xét là thửa đất được yêu cầu giải quyết. Quy tắc về nơi giải quyết được xác định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; quy định này không tự xác định đầy đủ mọi vấn đề về thẩm quyền của từng vụ án.

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn pháp luật đặt ra để chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích của mình. Việc không áp dụng thời hiệu đối với tranh chấp quyền sử dụng đất không đồng nghĩa yêu cầu đòi lại đất chắc chắn được chấp nhận.

Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 còn quy định không áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định khác. Vì vậy, cần xác định đúng quan hệ tranh chấp trước khi kết luận về thời hiệu.

Bạn có thể tham khảo bài tranh chấp đất sau thời gian dài có còn yêu cầu giải quyết được không để tìm hiểu thêm cách đặt vấn đề. Thời gian sử dụng kéo dài cần được xem xét cùng nguồn gốc đất và căn cứ sử dụng, không tách riêng để quyết định toàn bộ vụ việc.

Câu hỏi thường gặp

Các câu hỏi về hồ sơ địa chính, giấy tờ và hiện trạng cần được kiểm tra cùng nội dung thỏa thuận. Không nên kết luận quyền của các bên chỉ từ tên một giấy tờ hoặc một lời trình bày.

Sổ mục kê đất đai là gì?

Các điều luật viện dẫn trong bài không định nghĩa sổ mục kê đất đai hoặc quy định giá trị chứng minh riêng của loại sổ này. Nếu có sổ mục kê trong hồ sơ, cần kiểm tra nội dung cụ thể và đối chiếu với các giấy tờ khác trước khi dùng làm căn cứ yêu cầu.

Cho mượn bằng lời nói thì có chắc chắn không đòi được đất không?

Không nên kết luận như vậy chỉ vì thiếu văn bản. Điều 494 và Điều 499 Bộ luật Dân sự 2015 là cơ sở xem xét quan hệ mượn và quyền yêu cầu hoàn trả; còn việc xác định thỏa thuận thực tế cần rà soát các thông tin, tài liệu liên quan.

Người ở nhờ đã xây nhà thì có được tự tháo dỡ để lấy đất không?

Các quy định được viện dẫn không đủ để kết luận quyền tự tháo dỡ nhà trong tình huống này. Bạn nên tách yêu cầu trả đất khỏi việc xử lý tài sản trên đất và nhờ kiểm tra căn cứ trước khi tác động đến hiện trạng.

Nếu bên đang sử dụng xuất trình giấy tờ nghi giả thì xử lý thế nào?

Bạn cần giữ lại thông tin về giấy tờ đang bị nghi ngờ và làm rõ nội dung nào mâu thuẫn với hồ sơ của mình, không vội khẳng định giấy tờ là giả. Nếu tranh chấp chuyển sang vấn đề giao dịch có giấy tờ bất thường, có thể tham khảo bài về yêu cầu lấy lại đất đã bán khi phát hiện giấy tờ giả.

Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Dân sự 2015 (còn hiệu lực): Điều 166, Điều 155, Điều 494, Điều 499
  • Luật Đất đai 2024 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 44/VBHN-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 235
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 39

Luật Sư 11 hỗ trợ đòi lại đất cho mượn, cho ở nhờ

Luật Sư 11 có thể hỗ trợ rà soát giấy tờ, phân tích thỏa thuận và chuẩn bị hướng yêu cầu giao trả phù hợp với từng hồ sơ. Nếu đang gặp vướng mắc khi đòi lại đất, bạn có thể liên hệ qua luatsu11.vn để được tư vấn trên cơ sở tài liệu và diễn biến thực tế.

Luật sư Nguyễn Thành Huân

Luật sư Nguyễn Thành Huân, Giám đốc điều hành Công ty Luật sư 11, hơn 15 năm kinh nghiệm tranh tụng và tư vấn về đất đai, nhà ở, thừa kế, hôn nhân gia đình và bào chữa hình sự.

Lĩnh vực: đất đai, nhà ở, thừa kế, hôn nhân gia đình, hình sự

Xem hồ sơ luật sư

Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 04/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button Zalo