Nghe bài viết · 11 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 04/11/2026 · Đọc 13 phút
Bị hại có được quyền đề nghị hình phạt: Có, theo điểm g khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại do tội phạm. Tuy nhiên, quyền đề nghị không phải quyền quyết định; Tòa án quyết định hình phạt theo Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015.
Bị hại có được quyền đề nghị hình phạt cho bị cáo không?
Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người bị đưa ra xét xử trong vụ án hình sự; ý kiến của bị hại không thay thế quyết định của Tòa án.
Điểm g khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:
“Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;”
Hình phạt là biện pháp xử lý đối với người phạm tội do Tòa án quyết định. Bồi thường thiệt hại là việc bù đắp thiệt hại cho bên bị thiệt hại. Đây là những nội dung cần phân biệt khi trình bày yêu cầu.
Theo khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cá nhân có thể bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản; cơ quan, tổ chức có thể bị thiệt hại về tài sản, uy tín. Thiệt hại có thể đã xảy ra hoặc bị đe dọa gây ra.
Vì vậy, khi hỏi bị hại có được quyền đề nghị hình phạt, cần hiểu quyền này thuộc cả bị hại và người đại diện theo quy định, không chỉ dành cho cá nhân trực tiếp tham gia phiên tòa.
Bị hại có thể trình bày mong muốn xử lý nghiêm hoặc đề nghị xem xét nhẹ hơn. Tuy nhiên, không thể từ nguyện vọng đó kết luận Tòa án phải lựa chọn đúng mức hình phạt mà bị hại yêu cầu.
Bị hại có quyền thỏa thuận mức hình phạt đối với bị cáo không?
Bị hại không thể thông qua thỏa thuận với bị cáo để ấn định mức hình phạt buộc Tòa án phải áp dụng. Thỏa thuận là sự thống nhất ý chí giữa các bên; sự thống nhất ấy không thay thế căn cứ quyết định hình phạt tại Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015.

Câu hỏi bị hại có được quyền đề nghị hình phạt khác với câu hỏi các bên có được tự quyết mức phạt hay không. Điểm g khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ghi nhận quyền đề nghị, còn khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 xác định Tòa án là chủ thể quyết định hình phạt.
Cần phân biệt các nội dung sau:
| Nội dung | Vai trò của bị hại | Giới hạn cần hiểu |
|---|---|---|
| Đề nghị hình phạt | Trình bày mong muốn xử lý đối với bị cáo | Không thay thế quyết định của Tòa án |
| Đề nghị bồi thường | Nêu mức bồi thường và biện pháp bảo đảm bồi thường | Không đồng nhất với việc lựa chọn hình phạt |
| Quyết định hình phạt | Đưa ra ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án | Tòa án phải áp dụng căn cứ luật định |
| Rút yêu cầu khởi tố | Thực hiện trong trường hợp pháp luật quy định | Không áp dụng chung cho mọi vụ án |
Ví dụ minh họa (giả định): Bị hại và bị cáo thống nhất mong muốn Tòa án áp dụng một mức phạt cụ thể. Sự thống nhất đó không làm mất yêu cầu xem xét hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết liên quan.
Nếu đang cân nhắc việc nhận tiền khắc phục, bạn có thể tham khảo bài trả tiền khắc phục có thoát tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản? để tìm hiểu thêm câu hỏi liên quan.
Để quyết định hình phạt cho bị cáo, cần căn cứ vào đâu?
Tòa án phải căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự 2015 và cân nhắc các yếu tố được liệt kê tại khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015. Khi áp dụng hình phạt tiền, Tòa án còn phải xem xét tình hình tài sản và khả năng thi hành của người phạm tội theo khoản 2 Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015.

Các căn cứ cần xem xét gồm:
- Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự 2015, không lấy mong muốn của các bên thay cho quy định pháp luật.
- Tòa án cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tức xem xét hành vi và mức độ gây hại của hành vi đó.
- Tòa án cân nhắc nhân thân người phạm tội, tức những đặc điểm về bản thân người phạm tội có liên quan đến việc xem xét hình phạt.
- Tòa án cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, tức những yếu tố được xem xét theo hướng giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm của người phạm tội.
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý mà người phạm tội phải chịu đối với hành vi phạm tội. Không thể tự coi mọi mong muốn của bị hại là một tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng.
Bởi vậy, câu trả lời cho bị hại có được quyền đề nghị hình phạt là có, nhưng đề nghị đó không phải căn cứ độc lập để bỏ qua các yếu tố luật định. Cũng không thể suy ra tài sản ít hoặc khả năng thi hành hạn chế sẽ đương nhiên dẫn đến một mức phạt tiền cụ thể.
Bạn có thể đọc thêm nội dung về hình phạt đối với hành vi cố ý gây thương tích với hung khí nguy hiểm nếu vụ việc liên quan đến thiệt hại về sức khỏe.
Bị hại nên trình bày đề nghị hình phạt như thế nào?
Bị hại nên trình bày rõ mong muốn, lý do và tài liệu liên quan, đồng thời tách đề nghị hình phạt khỏi đề nghị bồi thường. Quyền đưa ra tài liệu, yêu cầu và trình bày ý kiến được ghi nhận tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Các bước sau là cách sắp xếp nội dung để trao đổi rõ ràng, không phải một thủ tục bắt buộc:
- Xác định thiệt hại mà mình cho rằng do hành vi phạm tội gây ra, tránh trình bày chung chung hoặc lẫn với thiệt hại của người khác.
- Tập hợp tài liệu, đồ vật và thông tin liên quan đến thiệt hại cũng như nội dung muốn đề nghị.
- Trình bày riêng mong muốn về hình phạt, mức bồi thường và biện pháp bảo đảm bồi thường.
- Nêu lý do của từng đề nghị, đồng thời yêu cầu người có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá những tài liệu liên quan.
Chứng cứ là những thông tin được sử dụng để làm rõ các tình tiết của vụ án. Khi sử dụng tài liệu để bảo vệ yêu cầu, bị hại có quyền trình bày ý kiến và yêu cầu kiểm tra, đánh giá theo điểm c khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tại phiên tòa, bị hại được trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa hỏi bị cáo và người tham gia khác, tranh luận để bảo vệ quyền lợi, xem biên bản phiên tòa theo điểm h khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Như vậy, việc bị hại có được quyền đề nghị hình phạt cần được thực hiện bằng ý kiến rõ ràng, gắn với tình tiết vụ án, thay vì chỉ nêu một mức phạt mà không giải thích lý do.
Bị hại rút yêu cầu khởi tố có phải là thỏa thuận hình phạt không?
Rút yêu cầu khởi tố không phải là thỏa thuận về mức hình phạt. Khởi tố vụ án hình sự là việc bắt đầu giải quyết vụ án theo thủ tục hình sự; việc rút yêu cầu chỉ có hệ quả quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đối với phạm vi vụ án tương ứng.

Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại đối với tội phạm thuộc khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự 2015.
Trong phạm vi đó, người yêu cầu có thể là bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết, theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ. Đình chỉ là việc chấm dứt giải quyết vụ án theo căn cứ luật định. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định việc rút yêu cầu trái ý muốn do bị ép buộc, cưỡng bức, các cơ quan có thẩm quyền vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng.
Người đã rút yêu cầu không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút do bị ép buộc, cưỡng bức, theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Do đó, bị hại có được quyền đề nghị hình phạt và bị hại có thể rút yêu cầu khởi tố là các quyền có phạm vi, hệ quả khác nhau. Không nên ký hoặc nộp văn bản rút yêu cầu khi chưa hiểu rõ nội dung và hậu quả.
Bị hại cần lưu ý gì khi thực hiện quyền đề nghị?
Bị hại được bảo vệ quyền lợi nhưng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ tham gia giải quyết vụ án. Việc có quyền đề nghị hình phạt không làm mất nghĩa vụ chấp hành giấy triệu tập và yêu cầu hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền.

Theo điểm a khoản 4 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập. Trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải, tức bị buộc có mặt theo yêu cầu tố tụng.
Bị hại còn phải chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền theo điểm b khoản 4 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Nếu cần tìm hiểu thêm về giai đoạn đầu của vụ án, bạn có thể tham khảo bài có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố không?. Quyền đề nghị hình phạt cần được phân biệt với các vấn đề xử lý trong từng giai đoạn.
Câu hỏi thường gặp
Các câu trả lời sau giúp phân biệt quyền đề nghị với những quyền khác của bị hại.
Người đại diện có được đề nghị hình phạt thay bị hại không?
Có. Điểm g khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ghi nhận quyền này cho bị hại hoặc người đại diện. Khoản 5 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 còn quy định việc người đại diện thực hiện quyền, nghĩa vụ khi bị hại chết, mất tích, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Bị hại xin xử nhẹ thì Tòa án có bắt buộc đồng ý không?
Không thể coi đề nghị xử nhẹ là yêu cầu buộc Tòa án phải chấp nhận. Tòa án vẫn quyết định hình phạt theo khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015. Câu hỏi bị hại có được quyền đề nghị hình phạt vì thế cần tách khỏi việc đề nghị có được chấp nhận hay không.
Bị hại có được nhờ người bảo vệ quyền lợi không?
Có. Điểm i khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cho phép bị hại tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Người bảo vệ quyền lợi là người hỗ trợ bị hại bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị hại không đồng ý với bản án thì có quyền gì?
Bị hại có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo điểm m khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Kháng cáo là việc yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục luật định; quyền này không đồng nghĩa bản án chắc chắn sẽ được thay đổi.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 172/VBHN-LQ-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 62, Điều 155
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 50
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn quyền của bị hại
Luật Sư 11 hỗ trợ bạn phân biệt đề nghị hình phạt, yêu cầu bồi thường và rút yêu cầu khởi tố; đồng thời trao đổi cách trình bày ý kiến phù hợp với vụ việc. Nếu còn băn khoăn bị hại có được quyền đề nghị hình phạt trong trường hợp của mình, bạn có thể liên hệ để được tư vấn trên cơ sở tình tiết và tài liệu cụ thể.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 04/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




