Nghe bài viết · 10 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 03/11/2026 · Đọc 12 phút
Hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành sau khi có quyết định khởi tố bị can, theo khoản 1 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Bị can được nhờ người bào chữa, không buộc phải khai chống lại chính mình hoặc nhận tội, theo điểm d, điểm h khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Hỏi cung bị can được tiến hành khi nào, ở đâu?
Điều tra viên tiến hành hỏi cung ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can, tại nơi tiến hành điều tra hoặc nơi ở của người đó. Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự, theo khoản 1 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Khoản 1 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định:
“Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.”
Hỏi cung là hoạt động hỏi và ghi nhận lời trình bày của bị can về những tình tiết của vụ án. Người bị khởi tố và gia đình cần phân biệt hoạt động lấy lời khai này với việc có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố hay không.
Thủ tục hỏi cung bị can được thực hiện ra sao?
Trình tự thực hiện phải bảo đảm việc thông báo, giải thích quyền, ghi nhận đầy đủ lời khai và kiểm tra biên bản. Biên bản là văn bản ghi lại nội dung, diễn biến của buổi làm việc.
Các công việc cơ bản gồm:
Thông báo trước buổi làm việc. Điều tra viên phải báo thời gian, địa điểm cho Kiểm sát viên và người bào chữa, theo khoản 1 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Giải thích quyền và nghĩa vụ. Trước lần hỏi cung đầu tiên, Điều tra viên phải giải thích rõ quyền và nghĩa vụ tại Điều 60 và ghi việc giải thích vào biên bản, theo khoản 2 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Hỏi và ghi nhận lời trình bày. Nếu vụ án có nhiều bị can, phải hỏi riêng từng người, không để họ tiếp xúc với nhau; có thể để bị can viết bản tự khai, theo khoản 2 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Lập biên bản đầy đủ. Mỗi lần hỏi cung đều phải lập biên bản, ghi đầy đủ lời trình bày, câu hỏi và câu trả lời; Điều tra viên, Cán bộ điều tra không được tự ý thêm, bớt hoặc sửa lời khai, theo khoản 1 Điều 184 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Đọc lại, sửa chữa và ký xác nhận. Bị can được nghe đọc hoặc tự đọc biên bản; nội dung bổ sung, sửa chữa phải được cùng ký xác nhận, theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Người đang tìm hiểu diễn biến tiếp theo của vụ án có thể đọc thêm về thời gian từ khởi tố đến quyết định truy tố.
Luật sư có được có mặt khi hỏi cung bị can không?
Luật sư có thể có mặt với tư cách người bào chữa; Điều tra viên phải thông báo trước thời gian, địa điểm cho người bào chữa. Căn cứ là điểm a khoản 2 Điều 72 và khoản 1 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Theo khoản 1 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ hoặc cơ quan có thẩm quyền chỉ định và được tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.
Khi người bào chữa tham gia, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích quyền và nghĩa vụ của họ. Bị can, người bào chữa, người đại diện cùng ký vào biên bản, theo khoản 3 Điều 184 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Nếu người bào chữa được hỏi bị can, biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi và câu trả lời, theo khoản 3 Điều 184 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Vì vậy, không nên hiểu rằng luật sư có mặt thì đương nhiên được tự do hỏi trong mọi thời điểm.
Bị can có những quyền và nghĩa vụ gì?
Bị can có quyền trình bày ý kiến, đưa ra tài liệu, tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng. Đồng thời, bị can phải có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, theo điểm a, điểm b khoản 3 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự; bào chữa là việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.
Các quyền cần lưu ý gồm:
- Bị can được biết lý do bị khởi tố và được thông báo, giải thích quyền, nghĩa vụ, theo điểm a, điểm b khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Bị can được trình bày lời khai, ý kiến, không buộc phải khai chống lại chính mình hoặc nhận mình có tội, theo điểm d khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Bị can được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và đề nghị kiểm tra, đánh giá những nội dung liên quan, theo điểm đ, điểm e khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Bị can được đề nghị giám định, định giá tài sản, thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và những người tham gia chuyên môn được liệt kê, theo điểm g khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Bị can được nhận các quyết định, văn bản liên quan theo phạm vi quy định tại điểm c khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Khi có yêu cầu, bị can được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội, bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra, theo điểm i khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Quyền không tự buộc tội không loại bỏ nghĩa vụ có mặt. Nếu vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, bị can có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã, theo điểm a khoản 3 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Áp giải là việc buộc người được triệu tập đến làm việc; truy nã là việc truy tìm người bỏ trốn.
Hỏi cung bị can có bắt buộc ghi âm, ghi hình không?
Việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh là bắt buộc tại những địa điểm được luật xác định. Tại địa điểm khác, việc ghi nhận bằng các phương tiện này thực hiện theo yêu cầu của bị can hoặc cơ quan, người có thẩm quyền, theo khoản 6 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

| Địa điểm thực hiện | Yêu cầu ghi nhận |
|---|---|
| Cơ sở giam giữ | Phải ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. |
| Trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra | Phải ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. |
| Địa điểm khác | Ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của chủ thể có quyền yêu cầu. |
Việc ghi âm, ghi hình không thay thế biên bản. Mỗi lần hỏi cung bị can vẫn phải lập biên bản theo khoản 1 Điều 184 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Bị can cần kiểm tra gì trước khi ký biên bản?
Bị can cần kiểm tra biên bản có ghi đúng, đủ lời trình bày, câu hỏi và câu trả lời hay không. Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc, theo khoản 1, khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Nếu nội dung chưa đúng, bị can nên nêu rõ phần cần sửa hoặc bổ sung ngay khi kiểm tra. Phần sửa chữa, bổ sung phải có chữ ký xác nhận của Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can; nếu biên bản có nhiều trang, bị can ký từng trang, theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Bản tự khai cũng phải có chữ ký xác nhận của các chủ thể nêu trên, theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Ví dụ minh họa (giả định): Bị can trình bày rằng mình không trực tiếp nhìn thấy sự việc, nhưng biên bản lại ghi là có nhìn thấy. Khi đọc lại, bị can nên đề nghị sửa đúng lời trình bày và kiểm tra phần xác nhận sửa chữa trước khi ký.
Lời nhận tội có đủ để kết tội không?
Lời nhận tội không được dùng làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội. Lời nhận tội chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án, theo khoản 2 Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Chứng cứ là căn cứ được sử dụng để làm rõ tình tiết vụ án. Vì vậy, khi hỏi cung bị can, nội dung nhận tội vẫn phải được xem xét trong quan hệ với các chứng cứ khác, không thể tách riêng để kết luận.
Bị can có thể trình bày ý kiến về tài liệu liên quan và yêu cầu kiểm tra, đánh giá theo điểm e khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Bạn có thể tìm hiểu thêm cách hoạt động điều tra gắn với giai đoạn truy tố qua bài về quy trình điều tra và truy tố tội đánh bạc.
Câu hỏi thường gặp
Các câu trả lời dưới đây làm rõ những tình huống thường phát sinh trong buổi hỏi cung.
Có được hỏi cung vào ban đêm không?
Không được hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn; lý do phải ghi rõ vào biên bản, theo khoản 3 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Khi bị can kêu oan, Kiểm sát viên có hỏi cung không?
Kiểm sát viên hỏi cung khi bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra, có căn cứ xác định điều tra vi phạm pháp luật hoặc trường hợp khác xét thấy cần thiết, theo khoản 4 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Khiếu nại là việc yêu cầu xem xét lại quyết định, hành vi tố tụng mà người khiếu nại phản đối.
Bị can có được yêu cầu đổi người phiên dịch không?
Bị can được giải thích về quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch khi buổi hỏi cung có người phiên dịch. Người phiên dịch phải ký từng trang biên bản, theo khoản 3 Điều 184 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Ép nhận tội hoặc dùng nhục hình bị xử lý thế nào?
Bức cung là việc ép buộc khai báo; nhục hình là việc dùng hành vi gây đau đớn, hành hạ thân thể. Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hiện các hành vi này đối với bị can phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 5 Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 172/VBHN-LQ-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 183, Điều 184, Điều 98, Điều 60, Điều 72
Luật Sư 11 hỗ trợ bảo vệ quyền của bị can
Luật Sư 11 tiếp nhận yêu cầu tư vấn về hỏi cung bị can, giải thích quyền và nghĩa vụ, rà soát nội dung biên bản và nhu cầu nhờ luật sư bào chữa. Bạn có thể liên hệ qua luatsu11.vn để trao đổi tình huống, chuẩn bị tài liệu và xác định hướng xử lý phù hợp.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 03/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




