Nghe bài viết · 14 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 03/11/2026 · Đọc 16 phút
Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 không cho phép tính thêm tình tiết tăng nặng nếu tình tiết đó đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt.
Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là gì?
Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là một trong những tình tiết được pháp luật liệt kê để xem xét tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 không định nghĩa cụ thể hành vi nào đáp ứng tình tiết này.
Trách nhiệm hình sự được hiểu là trách nhiệm pháp lý mà người phạm tội phải chịu đối với hành vi phạm tội. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tình tiết được pháp luật quy định để xem xét xử lý nghiêm khắc hơn đối với người phạm tội.
Điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 ghi nhận nguyên văn:
“e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;”
Quy định này xác lập căn cứ pháp lý của tình tiết, nhưng không mô tả chi tiết dấu hiệu nhận biết. Vì vậy, cần phân biệt giữa việc pháp luật có quy định tình tiết và việc tình tiết ấy có thực sự tồn tại trong một vụ việc cụ thể.
Không nên chỉ dựa vào lời nhận xét rằng người thực hiện “rất quyết tâm” hoặc “quá liều lĩnh” để kết luận. Khi xem xét một vụ án hình sự, tức vụ việc có hành vi bị xem xét xử lý về tội phạm, cần đối chiếu nhận định đó với diễn biến hành vi cụ thể.
Một giới hạn khác cũng cần nhớ: có hành vi phạm tội không đồng nghĩa với việc đương nhiên có thêm tình tiết cố tình thực hiện tội phạm đến cùng.
Khi nào có thể xem xét áp dụng tình tiết này?
Việc xem xét phải dựa vào tình tiết thực tế của hành vi và tuân thủ giới hạn không tính lại tình tiết đã dùng để xác định tội hoặc khung hình phạt. Không thể thay việc đối chiếu bằng suy đoán về thái độ của người thực hiện.

Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 đặt ra nguyên tắc:
“Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:”
Cụm từ “chỉ các tình tiết” giới hạn những căn cứ được dùng để tăng nặng. Người giải quyết vụ việc không thể tự đặt thêm một tình tiết ngoài danh sách chỉ vì cho rằng hành vi đáng bị xử lý nghiêm.
Đối với cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, người đang tìm hiểu hồ sơ nên tách các nội dung cần kiểm tra:
- Xác định hành vi cụ thể nào đang được dùng để đề nghị áp dụng điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
- Đối chiếu phần mô tả diễn biến với nhận định áp dụng tình tiết tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
- Kiểm tra tình tiết đó có đã được dùng để xác định tội hoặc khung hình phạt hay chưa theo khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
Đây là cách rà soát để đặt câu hỏi đúng trọng tâm, không phải bộ điều kiện nhận diện chi tiết được quy định ngay trong điều luật.
Gia đình người bị xem xét trách nhiệm hình sự cũng nên phân biệt giữa nội dung người khác kể lại, nhận xét cá nhân và phần diễn biến thể hiện trong hồ sơ. Sự phân biệt này giúp việc trao đổi với người hỗ trợ pháp lý tập trung vào hành vi thay vì những đánh giá cảm tính.
Những biểu hiện nào chưa đủ để tự kết luận có tình tiết tăng nặng?
Một nhận xét về thái độ hoặc một mô tả chung về hành vi chưa đủ để tự kết luận có tình tiết cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 không thiết lập danh sách biểu hiện tự động dẫn đến kết luận đó.

Trong thực tế trao đổi, người dân thường dùng những cách nói như “đã cố ý thì phải chịu thêm”, “làm đến khi có hậu quả là tăng nặng” hoặc “hành vi nghiêm trọng thì chắc chắn bị áp dụng”. Những cách hiểu này cần được kiểm tra lại.
Trước hết, không nên đồng nhất việc thực hiện hành vi phạm tội với việc có thêm tình tiết tăng nặng. Nếu suy luận rằng mọi người đã thực hiện tội phạm đều thuộc trường hợp này, việc xem xét tình tiết riêng sẽ mất ý nghĩa.
Tiếp theo, không nên chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng rồi suy ngược rằng người thực hiện tất yếu đã cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Điều luật nêu tên tình tiết nhưng không quy định rằng cứ có một hậu quả nhất định thì tự động áp dụng.
Cuối cùng, lời đánh giá như “ngoan cố”, “hung hãn” hoặc “quyết liệt” cần được đặt đúng nội dung pháp lý. Không nên dùng các từ gần nghĩa trong ngôn ngữ đời thường để thay thế cho việc làm rõ tình tiết đang được xem xét.
Khi đọc hồ sơ, câu hỏi hữu ích là: Nhận định tăng nặng đang dựa vào hành vi nào? Câu hỏi này cụ thể hơn việc tranh luận chung rằng người thực hiện có “cố tình” hay không.
Khi nào không được tính thêm tình tiết tăng nặng?
Một tình tiết không được tính thêm là tình tiết tăng nặng nếu đã được Bộ luật Hình sự 2015 quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt. Đây là giới hạn trực tiếp tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.

Dấu hiệu định tội là dấu hiệu dùng để xác định hành vi thuộc một tội phạm cụ thể. Dấu hiệu định khung hình phạt là dấu hiệu dùng để xác định khung hình phạt áp dụng đối với tội đó; khung hình phạt là phạm vi hình phạt mà điều luật quy định cho trường hợp tương ứng.
Khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:
“Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.”
Quy định này ngăn việc dùng lại cùng một tình tiết để tiếp tục làm bất lợi cho người phạm tội. Khi xem xét cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, không thể chỉ đọc riêng tên tình tiết mà bỏ qua giới hạn này.
| Trường hợp đối chiếu | Nội dung cần làm rõ | Hướng xem xét |
|---|---|---|
| Tình tiết chưa được dùng để xác định tội hoặc khung hình phạt | Có cơ sở xác định tình tiết tăng nặng hay không | Tiếp tục đối chiếu với quy định về tình tiết tăng nặng |
| Tình tiết đã là dấu hiệu xác định tội | Tình tiết đang được dùng vào việc xác định tội danh nào | Không tính lại thành tình tiết tăng nặng |
| Tình tiết đã là dấu hiệu xác định khung hình phạt | Tình tiết đang được dùng vào việc lựa chọn khung nào | Không tính lại thành tình tiết tăng nặng |
Ví dụ minh họa (giả định): Một tình tiết của hành vi đã được dùng làm dấu hiệu xác định khung hình phạt. Khi xem xét trách nhiệm của người thực hiện, không được tiếp tục dùng chính tình tiết đó làm tình tiết tăng nặng.
Ví dụ này chỉ minh họa nguyên tắc không tính lại, không khẳng định bất kỳ tội danh cụ thể nào có hay không có dấu hiệu tương ứng.
Bị áp dụng tình tiết này có chắc chắn tăng thêm một mức án cố định không?
Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định một mức hình phạt cộng thêm cố định cho tình tiết cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Vì vậy, không thể chỉ từ tên tình tiết mà tính được người phạm tội sẽ bị tăng thêm bao nhiêu thời gian chấp hành hình phạt.
Người dân thường hỏi: “Có tình tiết này thì án tăng bao nhiêu?”. Với riêng nội dung điều luật đang xét, câu trả lời chính xác là không có công thức cộng thêm cố định được quy định tại điều này.
Cũng cần tách biệt giữa việc áp dụng tình tiết tăng nặng và việc xác định khung hình phạt. Không nên tự suy luận rằng có thêm một tình tiết tăng nặng thì đương nhiên phải chuyển sang khung hình phạt khác.
Điều có thể khẳng định là việc xử lý phải tuân thủ pháp luật. Điểm a khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015 yêu cầu mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.
Bên cạnh đó, điểm b khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015 xác định mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.
Nếu vụ việc liên quan đến hành vi xâm phạm tính mạng, bạn có thể đọc thêm bài về tội giết người và các nội dung cần lưu ý khi xem xét hình phạt. Việc xem xét tình tiết tăng nặng vẫn cần tách khỏi cách hiểu đơn giản rằng tên tội danh tự quyết định toàn bộ mức án.
Thành khẩn khai báo và bồi thường có làm mất tình tiết tăng nặng không?
Không có quy định trong Điều 3 và Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 cho phép tự động xóa tình tiết tăng nặng chỉ vì người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc tự nguyện bồi thường. Tuy nhiên, các hành vi này có ý nghĩa khi xem xét nguyên tắc khoan hồng.

Thành khẩn khai báo được hiểu là khai báo trung thực về hành vi và những nội dung liên quan. Khoan hồng là cách xử lý nhân đạo, có xem xét những yếu tố mà pháp luật ghi nhận có lợi cho người phạm tội.
Điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015 quy định việc khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, cùng các trường hợp khác được nêu tại điểm này.
Vì vậy, cần xem xét riêng các câu hỏi:
- Hành vi trước và trong khi phạm tội có cơ sở để áp dụng tình tiết tăng nặng hay không?
- Người phạm tội có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoặc tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hay không?
- Các nhận định về hành vi và thái độ sau đó đã được trình bày rõ ràng, tránh đánh đồng hay chưa?
Việc bồi thường sau hành vi không tự động làm thay đổi diễn biến đã xảy ra. Ngược lại, có tình tiết tăng nặng cũng không phải lý do để bỏ qua việc xem xét nguyên tắc khoan hồng.
Đối với trường hợp đã hoàn trả tiền, bài viết về trách nhiệm khi đã trả tiền khắc phục hậu quả giúp bạn tiếp tục tìm hiểu vấn đề này. Không nên hiểu việc hoàn trả là sự bảo đảm rằng trách nhiệm hình sự sẽ không còn.
Cần chuẩn bị gì khi trao đổi về việc áp dụng tình tiết tăng nặng?
Người cần tư vấn nên chuẩn bị phần mô tả diễn biến, nội dung nhận định tăng nặng và các tài liệu liên quan đang có. Mục đích là làm rõ cơ sở áp dụng, không phải tìm cách thay đổi hoặc hợp thức hóa sự việc.

Bào chữa là việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xem xét trách nhiệm hình sự. Khi trao đổi về hướng bào chữa đối với cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, nên đi từ hành vi cụ thể rồi mới đến lập luận pháp lý.
Bạn có thể sắp xếp nội dung theo trình tự:
- Ghi lại trung thực diễn biến mà mình biết, đồng thời xác định phần hành vi đang được đối chiếu với điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
- Đánh dấu đoạn nhận định áp dụng tình tiết tăng nặng để trao đổi về căn cứ viện dẫn tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
- Tách nội dung dùng để xác định tội hoặc khung hình phạt nhằm kiểm tra giới hạn tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
- Tập hợp thông tin về việc khai báo, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại để xem xét nguyên tắc khoan hồng tại điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015.
Danh sách này là gợi ý chuẩn bị cho buổi tư vấn, không phải thành phần hồ sơ bắt buộc theo một thủ tục pháp luật.
Người thân không nên sửa lời kể của nhau để tạo ra một phiên bản thống nhất. Cách chuẩn bị hữu ích hơn là ghi rõ điều mình trực tiếp biết, điều chỉ nghe kể và điều chưa thể xác nhận.
Nếu cần tìm hiểu quá trình xử lý tiếp theo, bạn có thể tham khảo bài về thời điểm chuyển từ khởi tố sang xem xét truy tố. Nội dung về tiến trình giải quyết cần được phân biệt với câu hỏi có đủ cơ sở áp dụng tình tiết tăng nặng hay không.
Có thể kết luận gì về án lệ và thẩm quyền giải quyết?
Điều 3 và Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định nội dung của một án lệ cụ thể hoặc việc thay đổi thẩm quyền do áp dụng tình tiết đang xét. Vì vậy, không thể từ các điều này suy ra điều kiện áp dụng án lệ, quy định chuyển tiếp hay cơ quan sẽ giải quyết vụ việc.
Án lệ là những lập luận, phán quyết được lựa chọn, công bố để nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Thẩm quyền là phạm vi công việc mà pháp luật giao cho một cơ quan hoặc người có trách nhiệm giải quyết.
Nếu một nhận định viện dẫn án lệ để áp dụng cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, người cần tư vấn nên đề nghị làm rõ nội dung án lệ được viện dẫn và sự tương ứng với diễn biến vụ việc.
Không nên coi việc nhắc tên án lệ là đã thay thế cho toàn bộ việc phân tích. Cũng không nên suy luận rằng cứ có tình tiết tăng nặng thì cơ quan giải quyết phải thay đổi.
Phạm vi kết luận chắc chắn ở đây là: tình tiết có tên trong danh sách tăng nặng và phải chịu giới hạn không tính lại theo Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
Câu hỏi thường gặp
Các câu trả lời dưới đây tập trung vào những nhầm lẫn thường gặp khi người dân đọc nhận định về tình tiết tăng nặng.
Gia đình cho rằng hành vi không nghiêm trọng thì có loại trừ được tình tiết không?
Nhận xét của gia đình không tự quyết định việc áp dụng hay loại trừ tình tiết. Cần làm rõ hành vi cụ thể đang được dùng làm căn cứ và kiểm tra cách đối chiếu với điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
Chỉ có lời mô tả “quyết tâm thực hiện” thì nên hỏi lại điều gì?
Bạn nên hỏi hành vi cụ thể nào thể hiện nhận định đó và tình tiết ấy có đã được dùng để xác định tội hoặc khung hình phạt hay chưa. Không nên dừng ở việc tranh luận về một cụm từ mô tả.
Người có địa vị xã hội khác nhau có bị áp dụng khác nhau không?
Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật theo điểm b khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015. Địa vị xã hội không phải căn cứ để tự đặt ra cách áp dụng tình tiết tăng nặng khác với quy định.
Có tình tiết tăng nặng thì còn cần trình bày việc ăn năn không?
Người phạm tội vẫn nên trình bày trung thực việc ăn năn, khai báo và tự nguyện khắc phục thiệt hại. Điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015 ghi nhận nguyên tắc khoan hồng đối với những trường hợp tương ứng.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 52, Điều 3
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn tình tiết tăng nặng
Luật Sư 11 hỗ trợ rà soát nhận định áp dụng tình tiết cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, đối chiếu giới hạn không tính lại và trao đổi hướng bào chữa phù hợp với hồ sơ cụ thể. Bạn có thể liên hệ qua luatsu11.vn để được tư vấn, đồng thời chuẩn bị các giấy tờ liên quan và mô tả trung thực diễn biến vụ việc.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 03/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




