Nghe bài viết · 14 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 04/11/2026 · Đọc 17 phút
Tội hành nghề mê tín dị đoan có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, tùy trường hợp theo khoản 1 và khoản 2 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015. Việc xem xét trách nhiệm phải căn cứ vào hành vi, tiền sử xử lý và hậu quả, không thể chỉ dựa vào tên gọi hoạt động.
Hành nghề mê tín, dị đoan được hiểu như thế nào?
Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015 nêu hành vi dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác. Điều luật không liệt kê đầy đủ mọi hình thức và cũng không đưa ra định nghĩa riêng cho từng hoạt động.
Vì vậy, khi xem xét một sự việc, cần làm rõ người thực hiện đã làm gì, hoạt động diễn ra ra sao và có những chứng cứ nào phản ánh bản chất hoạt động. Tên gọi mà người thực hiện tự sử dụng chưa đủ để kết luận hành vi có thuộc phạm vi điều luật hay không.
Cũng cần phân biệt việc nhận diện một hoạt động có yếu tố mê tín với việc xác định người thực hiện đã phạm tội. Trách nhiệm hình sự được hiểu là trách nhiệm mà người phạm tội phải chịu theo quy định của pháp luật hình sự. Để xem xét trách nhiệm này, phải đối chiếu các dấu hiệu trong Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015, thay vì chỉ đánh giá hoạt động là phản cảm hoặc khó kiểm chứng.
Đối với người phản ánh sự việc, cách trình bày hữu ích là mô tả hành vi cụ thể, lời nói, cách nhận tiền và hậu quả thực tế. Việc chỉ ghi “người này hành nghề mê tín” mà không có tình tiết đi kèm sẽ chưa làm rõ được căn cứ cần xem xét.
Khi nào hành vi có thể bị xử lý về tội hành nghề mê tín dị đoan?
Khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015 quy định trường hợp người dùng bói toán, đồng bóng hoặc hình thức mê tín, dị đoan khác đã bị xử lý về hành vi này mà còn vi phạm. Khoản 2 của điều luật quy định riêng các trường hợp có hậu quả hoặc khoản thu lợi được nêu cụ thể.

Quy định trực tiếp tại khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
“Người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Căn cứ: khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015.
Để đối chiếu cấu thành tội phạm, tức tập hợp những dấu hiệu pháp lý dùng để xác định một hành vi có thuộc tội danh cụ thể hay không, cần làm rõ:
- Người thực hiện có dùng bói toán, đồng bóng hoặc hình thức mê tín, dị đoan khác hay không.
- Người thực hiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về chính hành vi này hay chưa. Xử phạt vi phạm hành chính ở đây được hiểu là việc xử lý hành vi vi phạm bằng quyết định hành chính, khác với việc kết án về một tội phạm.
- Nếu trước đây đã bị kết án về tội này, cần xác định tình trạng xóa án tích. Án tích là dấu tích pháp lý của việc bị kết án; xóa án tích được hiểu là việc xóa bỏ dấu tích pháp lý đó.
- Người đã thuộc trường hợp xử lý trước đó có tiếp tục thực hiện hành vi hay không.
Các nội dung trên phục vụ việc đối chiếu khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015. Không nên bỏ qua việc kiểm tra các trường hợp tại khoản 2 của điều luật, nhất là khi có người chết, có khoản thu lợi lớn hoặc có ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Điều luật này không quy định chi tiết về độ tuổi chịu trách nhiệm, cách xác định lỗi hoặc thủ tục xóa án tích. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào riêng nội dung điều luật để kết luận đầy đủ về những yếu tố đó trong một vụ việc.
Người phạm tội có thể chịu những hình phạt nào?
Người phạm tội có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù theo khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015. Nếu thuộc khoản 2 của điều luật, hình phạt được quy định là phạt tù.
Có thể phân biệt các nhóm hình phạt như sau:
| Trường hợp xem xét | Hình thức xử lý được quy định | Điểm cần phân biệt |
|---|---|---|
| Trường hợp cơ bản | Phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù | Các hình thức được quy định theo hướng lựa chọn |
| Trường hợp có tình tiết thuộc khung nặng hơn | Phạt tù | Phải xác định được tình tiết tương ứng |
| Hình phạt tiền bổ sung | Có thể phạt tiền thêm | Không được quy định là bắt buộc trong mọi trường hợp |
Cải tạo không giam giữ là hình phạt không buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt trong cơ sở giam giữ. Phạt tù là hình phạt buộc người bị kết án chấp hành việc giam giữ trong thời hạn được quyết định.
Ở trường hợp cơ bản, mức phạt tiền là từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, theo khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015.
Ở khung nặng hơn, mức phạt tù là từ 03 năm đến 10 năm, theo khoản 2 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015. Khung hình phạt được hiểu là phạm vi loại và mức hình phạt mà điều luật quy định cho một nhóm trường hợp phạm tội.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng theo khoản 3 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015. Đây là hình phạt bổ sung, tức hình phạt có thể được áp dụng thêm bên cạnh hình phạt chính.
Vì vậy, không nên hiểu rằng cứ có tiền nộp phạt thì sẽ không bị phạt tù, hoặc cứ bị kết án thì bắt buộc phải chịu thêm tiền phạt.
Những trường hợp nào bị áp dụng khung hình phạt nặng hơn?
Người phạm tội thuộc trường hợp làm chết người, thu lợi bất chính đạt mức luật định hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội sẽ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015. Mỗi tình tiết cần được xác định bằng diễn biến và chứng cứ cụ thể.
Trường hợp làm chết người được xem xét ra sao?
Hành vi làm chết người thuộc điểm a khoản 2 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015. Khi xem xét, cần làm rõ mối liên hệ giữa việc hành nghề và hậu quả tử vong.
Việc có người chết trong thời gian diễn ra hoạt động chưa tự nó giải thích đầy đủ nguyên nhân. Hồ sơ cần thể hiện người hành nghề đã thực hiện hành vi gì, người bị tác động gặp diễn biến gì và hậu quả phát sinh như thế nào.
Bạn có thể đọc thêm bài viết về những quy định khác liên quan đến hành vi xâm phạm tính mạng để phân biệt phạm vi tư vấn. Không nên tự đồng nhất mọi trường hợp tử vong với cùng một tội danh.
Thu lợi bất chính được xem xét thế nào?
Thu lợi bất chính được hiểu là khoản lợi có được từ hành vi trái pháp luật. Mức thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng trở lên là tình tiết thuộc điểm b khoản 2 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015.
Điều luật sử dụng khái niệm “thu lợi bất chính”, không phải mọi khoản tiền xuất hiện trong giao dịch đều mặc nhiên được xác định là khoản thu lợi này. Cần làm rõ nguồn tiền, người nhận, mục đích chi trả và mối liên hệ với hành vi bị xem xét.
Ví dụ minh họa (giả định): Một người nhận tiền qua nhiều giao dịch để thực hiện hoạt động mê tín, dị đoan. Việc đối chiếu chứng từ và nội dung trao đổi giúp làm rõ khoản tiền nào liên quan đến hoạt động đó, thay vì chỉ cộng toàn bộ tiền trong tài khoản.
Ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội được xác định thế nào?
Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội là tình tiết tại điểm c khoản 2 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015. Điều luật không mô tả chi tiết tiêu chí hoặc mức độ cụ thể của ảnh hưởng xấu.
Do đó, không nên tự đặt thêm ngưỡng về số người tham gia, quy mô tổ chức hoặc mức độ lan truyền để coi đó là điều kiện luật định. Những thông tin này có thể giúp mô tả sự việc, nhưng không thay thế việc xác định tình tiết theo điều luật.
Có thể phân biệt tín ngưỡng với mê tín, dị đoan chỉ bằng tên gọi không?
Không thể chỉ từ tên gọi của một hoạt động để kết luận người tham gia hoặc người tổ chức phạm tội. Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015 không đưa ra định nghĩa về tín ngưỡng và cũng không thiết lập một danh mục đầy đủ để phân loại mọi hoạt động.

Trong phạm vi tư vấn về tội hành nghề mê tín dị đoan, cần tập trung vào hành vi thực tế mà điều luật nêu. Việc một hoạt động được gọi là nghi lễ, sinh hoạt tâm linh hay bói toán chưa thay thế được quá trình đối chiếu các dấu hiệu pháp lý.
Ngược lại, việc người tổ chức tự giới thiệu hoạt động mang ý nghĩa tinh thần cũng chưa đủ để loại trừ việc xem xét trách nhiệm. Cần kiểm tra nội dung thực hiện, tiền sử xử lý và các hậu quả có liên quan.
Ví dụ minh họa (giả định): Một người phản ánh hoạt động mà họ cho là mê tín. Khi trao đổi với luật sư, người phản ánh nên mô tả lời nói, hành động, khoản tiền đã giao và hậu quả, thay vì chỉ yêu cầu kết luận dựa trên tên gọi.
Cách tiếp cận này giúp tránh cả việc quy kết vội vàng lẫn việc bỏ sót những dấu hiệu cần kiểm tra.
Tổ chức hoạt động mê tín, dị đoan bị xử phạt như thế nào?
Người tổ chức hoạt động có thể bị xem xét theo Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015 nếu hành vi thực tế thuộc các trường hợp mà điều luật quy định. Điều luật không đặt ra một mức phạt riêng chỉ vì hoạt động được mô tả là “có tổ chức” hoặc “đứng ra tổ chức”.

Đối với khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015, cần kiểm tra việc dùng bói toán, đồng bóng hoặc hình thức mê tín, dị đoan khác, cùng tình trạng đã bị xử lý mà còn vi phạm. Nếu có các tình tiết thuộc khoản 2 của điều luật, phải đối chiếu riêng từng tình tiết.
Cũng cần làm rõ ai trực tiếp thực hiện, ai nhận tiền và mỗi người đã có hành vi cụ thể nào. Không nên kết luận mọi người có mặt, hỗ trợ địa điểm hoặc tham gia hoạt động đều chịu cùng một trách nhiệm chỉ từ sự hiện diện của họ.
Về xử phạt hành chính, Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015 chỉ nhắc đến việc đã bị xử phạt như một dấu hiệu cần xem xét ở trường hợp cơ bản. Điều luật không quy định mức phạt hành chính cụ thể cho người tổ chức.
Vì vậy, không thể lấy mức phạt tiền hình sự để trả lời thay cho mức phạt hành chính. Đây là những nội dung phải được phân biệt khi tư vấn về hình thức xử lý.
Nếu người tổ chức cho biết đã trả lại tiền, vẫn cần đối chiếu đầy đủ các dấu hiệu của hành vi. Bạn có thể tham khảo thêm bài về việc hoàn trả tiền và trách nhiệm trong vụ việc lừa đảo, nhưng không nên chuyển nguyên kết luận của một tội danh sang tội danh khác.
Có thể áp dụng cấm hành nghề đối với người bị kết án không?
Điều 41 Bộ luật Hình sự 2015 quy định việc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định khi xét thấy việc tiếp tục đảm nhiệm, hành nghề hoặc làm công việc đó có thể gây nguy hại cho xã hội. Không nên hiểu đây là hậu quả tự động trong mọi vụ án.
Cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định là việc người bị kết án không được thực hiện nghề hoặc công việc được xác định trong thời hạn cấm.
Thời hạn cấm là từ 01 năm đến 05 năm theo Điều 41 Bộ luật Hình sự 2015. Cách xác định thời điểm bắt đầu phụ thuộc hình phạt và trường hợp cụ thể:
- Nếu chấp hành hình phạt tù, thời hạn cấm được tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù theo Điều 41 Bộ luật Hình sự 2015.
- Nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ, thời hạn cấm được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo Điều 41 Bộ luật Hình sự 2015.
- Nếu người bị kết án được hưởng án treo, thời hạn cấm được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo Điều 41 Bộ luật Hình sự 2015.
Bản án có hiệu lực pháp luật được hiểu là bản án đã có giá trị thi hành theo pháp luật. Án treo là trường hợp người bị kết án tù được hưởng việc không phải chấp hành hình phạt tù có điều kiện; Điều 41 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định các điều kiện để được hưởng.
Người liên quan nên chuẩn bị thông tin gì khi cần tư vấn?
Người cần tư vấn nên chuẩn bị thông tin về hành vi, việc xử lý trước đây, dòng tiền và hậu quả. Đây là gợi ý để làm rõ sự việc, không phải danh mục hồ sơ bắt buộc do Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015 quy định.

Có thể sắp xếp thông tin theo thứ tự:
- Ghi lại diễn biến hoạt động, người tham gia và hành vi của từng người, tránh chỉ dùng những nhận xét chung.
- Tập hợp quyết định xử phạt hoặc bản án trước đây, nếu có, để kiểm tra đúng hành vi đã bị xử lý.
- Chuẩn bị thông tin về tình trạng xóa án tích nếu đã từng bị kết án về tội này.
- Sắp xếp chứng từ chuyển tiền, nội dung trao đổi và thông tin người nhận để làm rõ khoản thu lợi.
- Ghi nhận hậu quả thực tế cùng tài liệu thể hiện mối liên hệ giữa hành vi và hậu quả.
Thông tin còn thiếu nên được đánh dấu là chưa xác định, thay vì suy đoán rồi trình bày như sự thật. Nếu có nhiều người tham gia, nên tách diễn biến theo từng người để tránh nhầm lẫn vai trò.
Đối với những băn khoăn về giai đoạn đầu của vụ án, bạn có thể tham khảo thêm bài giải đáp về việc bị tạm giam khi bị khởi tố. Nội dung về hình phạt không thay thế cho việc xem xét riêng các vấn đề tố tụng, tức trình tự và hoạt động giải quyết vụ án.
Câu hỏi thường gặp
Các câu hỏi dưới đây tập trung vào cách đọc và đối chiếu Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015, giúp tránh nhầm lẫn khi đánh giá một sự việc.
Đã bị xử phạt về hành vi khác có đáp ứng dấu hiệu xử lý trước đó không?
Khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015 dùng cụm “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này”. Vì vậy, không thể lấy một quyết định xử phạt về hành vi khác để tự động thay thế dấu hiệu mà điều luật yêu cầu.
Đã được xóa án tích thì có còn thuộc nhánh đã bị kết án mà tiếp tục vi phạm không?
Nhánh này tại khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015 yêu cầu người đã bị kết án về tội này “chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Nếu đã được xóa án tích thì không đáp ứng riêng dấu hiệu chưa được xóa án tích; vẫn cần kiểm tra các căn cứ khác trước khi kết luận.
Không nhận tiền thì có chắc chắn không phạm tội không?
Không thể kết luận như vậy chỉ từ việc không nhận tiền. Khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định thu tiền là dấu hiệu được nêu riêng trong mô tả hành vi; khoản 2 của điều luật còn có các trường hợp liên quan đến hậu quả ngoài thu lợi bất chính.
Có thể biết chính xác mức án chỉ từ lời kể không?
Lời kể ban đầu thường chưa đủ để xác định mức án cụ thể. Cần làm rõ hành vi, tiền sử xử lý, khoản thu lợi và hậu quả để đối chiếu điều luật; không nên coi mức cao nhất trong khung là mức mặc nhiên áp dụng.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 320, Điều 41
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn hành vi mê tín, dị đoan
Luật Sư 11 hỗ trợ rà soát diễn biến, tài liệu xử lý trước đây và những tình tiết liên quan đến tội hành nghề mê tín dị đoan. Nếu cần đánh giá một trường hợp cụ thể, bạn có thể liên hệ qua luatsu11.vn để trao đổi thông tin và được tư vấn hướng xử lý phù hợp với hồ sơ thực tế.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 04/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




