Nghe bài viết · 10 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Biên tập: Luật Sư 11 · Cập nhật 05/11/2026 · Đọc 11 phút
Khởi tố bị can đối với đảng viên được xem xét khi có đủ căn cứ xác định người đó thực hiện hành vi được quy định là tội phạm, theo khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Riêng việc đình chỉ sinh hoạt Đảng hoặc thi hành kỷ luật không thể kết luận chỉ từ quy định về khởi tố.
Khởi tố bị can đối với đảng viên dựa trên căn cứ nào?
Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố khi có đủ căn cứ xác định người đó thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự 2015 quy định là tội phạm. Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không đặt ra căn cứ khởi tố riêng cho đảng viên.
Khởi tố bị can là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xác định một người bị xem xét về hành vi phạm tội để tiến hành điều tra.
“Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.”
Căn cứ: khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Khi kiểm tra quyết định khởi tố bị can đối với đảng viên, cần đọc đúng hành vi, tội danh và căn cứ áp dụng. Người đọc có thể tham khảo bài về các loại tội phạm hình sự để định hướng nội dung cần tìm hiểu; căn cứ xử lý vẫn phải đối chiếu với từng vụ án.
Quy trình khởi tố bị can đối với đảng viên diễn ra thế nào?
Quy trình gồm ra quyết định, gửi Viện kiểm sát xét phê chuẩn và giao quyết định cho người bị khởi tố. Phê chuẩn là việc Viện kiểm sát chấp thuận quyết định khởi tố sau khi xem xét quyết định cùng tài liệu liên quan.

Cơ quan điều tra thực hiện những việc gì?
Cơ quan điều tra thực hiện các công việc theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
- Cơ quan điều tra xác định căn cứ khởi tố và ra quyết định. Quyết định phải ghi thông tin người bị khởi tố, tội danh, điều khoản áp dụng, thời gian, địa điểm phạm tội và các nội dung tại khoản 2 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Cơ quan điều tra gửi quyết định cùng tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định, theo khoản 3 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Viện kiểm sát quyết định phê chuẩn, hủy bỏ hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận quyết định, theo khoản 3 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Cơ quan điều tra giao ngay quyết định khởi tố, quyết định phê chuẩn và giải thích quyền, nghĩa vụ sau khi nhận quyết định phê chuẩn hoặc quyết định khởi tố của Viện kiểm sát, theo khoản 5 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Các hướng xử lý của Viện kiểm sát được phân biệt như sau:
| Hướng xử lý | Nội dung | Điểm cần kiểm tra |
|---|---|---|
| Phê chuẩn | Chấp thuận quyết định khởi tố | Việc giao quyết định và giải thích quyền, nghĩa vụ |
| Hủy bỏ | Không chấp thuận quyết định khởi tố đã ban hành | Nội dung quyết định hủy bỏ |
| Yêu cầu bổ sung | Yêu cầu thêm chứng cứ, tài liệu để xem xét | Kết quả xem xét sau khi nhận tài liệu bổ sung |
Nếu yêu cầu bổ sung, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận chứng cứ, tài liệu bổ sung, theo khoản 3 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Viện kiểm sát có thể trực tiếp khởi tố không?
Viện kiểm sát có thể trực tiếp ra quyết định trong các trường hợp tại khoản 4 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Chẳng hạn, Viện kiểm sát đã yêu cầu khởi tố người có hành vi phạm tội nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện.
Trong trường hợp này, Viện kiểm sát phải gửi quyết định cho Cơ quan điều tra trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định, theo khoản 4 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Bạn có thể đọc thêm bài về quy trình điều tra và truy tố tội đánh bạc nếu vụ án liên quan đến hành vi này.
Quyết định khởi tố bị can đối với đảng viên có thể thay đổi không?
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thể thay đổi hoặc phải bổ sung quyết định khi có căn cứ theo Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Thay đổi là điều chỉnh nội dung đã khởi tố; bổ sung là ghi nhận thêm hành vi phạm tội khác.

Các căn cứ gồm:
- Quyết định được thay đổi khi có căn cứ xác định hành vi không phạm vào tội đã bị khởi tố, theo điểm a khoản 1 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Quyết định được thay đổi khi ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân, theo điểm b khoản 1 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Quyết định phải được bổ sung nếu có căn cứ xác định bị can còn thực hiện hành vi khác được quy định là tội phạm, theo khoản 2 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Cơ quan điều tra phải gửi quyết định thay đổi hoặc bổ sung và tài liệu liên quan để xét phê chuẩn trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định, theo khoản 3 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Việc giao quyết định cho người đã bị khởi tố phải được lập biên bản theo khoản 4 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Nguyên tắc thi hành kỷ luật đối với đảng viên bị khởi tố được xác định ra sao?
Không thể dùng riêng Điều 179 và Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 để xác định nguyên tắc thi hành kỷ luật Đảng. Các điều này điều chỉnh việc khởi tố, thay đổi và bổ sung quyết định khởi tố, không quy định hình thức kỷ luật Đảng.

Kỷ luật Đảng là việc tổ chức Đảng có thẩm quyền xử lý vi phạm của đảng viên theo quy định áp dụng trong Đảng. Cần phân biệt quyết định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự với quyết định xử lý về Đảng.
Khi xem xét khởi tố bị can đối với đảng viên, không nên tự suy ra hình thức kỷ luật từ tên tội danh hoặc từ việc đã có quyết định khởi tố. Muốn xác định cách xử lý cụ thể, cần kiểm tra quy định về kỷ luật Đảng áp dụng và quyết định của tổ chức có thẩm quyền.
Đảng viên có bị đình chỉ sinh hoạt Đảng khi bị khởi tố không?
Chỉ dựa vào Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì chưa đủ căn cứ kết luận đảng viên đương nhiên bị đình chỉ sinh hoạt Đảng. Điều luật này không quy định điều kiện, thẩm quyền hay thủ tục đình chỉ sinh hoạt Đảng.

Đình chỉ sinh hoạt Đảng được hiểu là việc tạm dừng sinh hoạt Đảng theo quyết định của tổ chức có thẩm quyền. Việc xác định có áp dụng hay không cần đối chiếu quy định về Đảng tương ứng, không thể thay bằng quy định về khởi tố.
Vì vậy, khi nhận quyết định khởi tố bị can đối với đảng viên, người liên quan nên kiểm tra riêng quyết định tố tụng và văn bản về sinh hoạt Đảng, nếu có. Nội dung cần làm rõ là cơ quan ban hành, căn cứ và phạm vi của từng quyết định.
Cũng không nên đồng nhất các câu hỏi về sinh hoạt Đảng với câu hỏi về tạm giam. Bạn có thể tham khảo riêng bài có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố không để tìm hiểu vấn đề này.
Người bị khởi tố có thể đề nghị xem xét kết luận chuyên môn không?
Người bị khởi tố có quyền trình bày ý kiến về kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và đưa ra đề nghị tương ứng. Các quyền này được ghi nhận tại Điều 214 và Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Giám định là hoạt động xem xét vấn đề chuyên môn để đưa ra kết luận phục vụ giải quyết vụ án. Theo khoản 3 Điều 214 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can có thể đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại.
Định giá tài sản là hoạt động xác định giá trị tài sản liên quan đến vụ án. Bị can có quyền trình bày ý kiến và đề nghị định giá lại theo khoản 3 Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Nếu không chấp nhận đề nghị, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do theo khoản 4 Điều 214 và khoản 4 Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Câu hỏi thường gặp
Quyết định khởi tố có phải ghi từng tội danh không?
Nếu bị khởi tố về nhiều tội khác nhau, quyết định phải ghi rõ từng tội danh và điều, khoản được áp dụng, theo khoản 2 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Người bị khởi tố có được giải thích quyền và nghĩa vụ không?
Cơ quan điều tra phải giải thích quyền, nghĩa vụ khi giao các quyết định theo khoản 5 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Người nhận nên đọc kỹ nội dung trước khi xác nhận việc giao, nhận.
Khởi tố và truy tố có phải cùng một việc không?
Khởi tố bị can là quyết định để tiến hành điều tra đối với người bị xác định có hành vi phạm tội. Truy tố là việc Viện kiểm sát đưa bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng, tức văn bản nêu nội dung buộc tội, theo khoản 1 Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Khi nào được thông báo kết luận định giá tài sản?
Cơ quan có thẩm quyền phải thông báo kết luận định giá cho người liên quan trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận kết luận, theo khoản 2 Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 172/VBHN-LQ-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 179, Điều 180, Điều 214, Điều 222, Điều 243
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn khởi tố bị can đối với đảng viên
Luật Sư 11 hỗ trợ rà soát quyết định, đối chiếu trình tự tố tụng và tư vấn các nội dung cần làm rõ trong hồ sơ. Nếu đang cần phân biệt việc giải quyết vụ án với xử lý kỷ luật, sinh hoạt Đảng, bạn có thể liên hệ Luật Sư 11 để được tư vấn theo tình tiết cụ thể.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 05/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




