Nghe bài viết · 8 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Luật sư Nguyễn Thành Huân
Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 16/10/2026 · Đọc 8 phút
Chưa thể xác định tiêu chí xét thưởng cho tập thể chỉ từ quy định về trách nhiệm phòng chống tội phạm. Khoản 2 Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 quy định nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, nhưng không quy định điều kiện, mức thưởng hoặc thủ tục nhận thưởng.
Tiêu chí nào để tập thể được xét thưởng?
Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 không đặt ra tiêu chí xét thưởng cho tập thể. Vì vậy, không thể lấy việc hoàn thành nhiệm vụ phòng ngừa, phát hiện hành vi phạm tội làm căn cứ duy nhất để kết luận một tập thể được nhận thưởng.
Khoản 2 Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 quy định nguyên văn:
“Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.”
Quy định này xác định nhiệm vụ phòng chống tội phạm của cơ quan, tổ chức, không xác định thành tích nào được thưởng. Cần phân biệt trách nhiệm phải thực hiện với điều kiện hưởng một khoản thưởng.
Muốn xác định quyền lợi của tập thể, cần kiểm tra quy định cụ thể về đối tượng, thành tích, thẩm quyền quyết định và thủ tục xét thưởng. Không nên suy ra mức thưởng từ quy định chung về trách nhiệm tham gia đấu tranh chống tội phạm.
Cơ quan, tổ chức và công dân có trách nhiệm gì?
Cơ quan, tổ chức phải giáo dục người thuộc quyền quản lý và kịp thời loại trừ nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm theo khoản 3 Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015.

Trách nhiệm của các nhóm chủ thể được phân biệt như sau:
| Chủ thể | Trách nhiệm được quy định | Phạm vi thực hiện |
|---|---|---|
| Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và cơ quan hữu quan | Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; hướng dẫn, giúp đỡ các chủ thể khác | Phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm; giám sát, giáo dục người phạm tội tại cộng đồng |
| Cơ quan, tổ chức | Giáo dục, nâng cao cảnh giác; loại trừ nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm | Trong cơ quan, tổ chức và đối với người thuộc quyền quản lý |
| Công dân | Tích cực tham gia | Hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm |
Căn cứ của bảng là khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015.
Đối với tập thể, việc tuyên truyền pháp luật cần gắn với nhận diện nguy cơ trong hoạt động của mình. Tuy nhiên, trách nhiệm phòng chống tội phạm không tự chuyển thành quyền nhận tiền thưởng.
Có thể kết luận mức thưởng và cách sử dụng quỹ không?
Không thể căn cứ Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 để xác định mức thưởng, cách tiếp nhận đóng góp hoặc nguyên tắc sử dụng quỹ. Điều luật này không điều chỉnh việc thu, chi quỹ.

Các thông tin về quỹ trung ương, tiền mặt đóng góp vừa tiếp nhận có được chi trực tiếp hay không, hoặc cơ quan nào quyết định thưởng cần được đối chiếu với văn bản điều chỉnh đúng nội dung.
Tương tự, tên thông tư, ngày ban hành và ngày áp dụng phải được kiểm tra trước khi sử dụng làm căn cứ. Không nên dùng một thông tin giới thiệu chính sách để kết luận tập thể đã đáp ứng tiêu chí hoặc chắc chắn được thưởng.
Khi tìm hiểu chính sách phòng chống tội phạm, người đọc nên tách riêng câu hỏi về trách nhiệm tham gia với câu hỏi về quản lý quỹ và xét thưởng.
Mọi hành vi vi phạm có phải là tội phạm không?
Không phải mọi hành vi vi phạm đều là tội phạm. Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 xác định hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng biện pháp khác.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật Hình sự 2015 quy định, do chủ thể đáp ứng điều kiện luật định thực hiện có lỗi và phải bị xử lý hình sự theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015.
Vì vậy, tập thể tham gia phòng chống tội phạm cần phân biệt thông tin nghi ngờ với kết luận một người đã phạm tội. Việc nhận diện hành vi phải gắn với dấu hiệu pháp lý, không chỉ dựa vào thiệt hại hoặc phản ứng của người xung quanh.
Nếu quan tâm đến vụ việc liên quan tài sản, bạn có thể đọc thêm bài trả tiền khắc phục có thoát tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?.
Biết rõ hành vi phạm tội nhưng im lặng có rủi ro gì?
Người biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác có thể phải chịu trách nhiệm theo khoản 1 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015. Điều khoản này dẫn chiếu đến tội không tố giác tội phạm tại Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015.

Không tố giác tội phạm là việc biết rõ hành vi phạm tội ở những giai đoạn luật nêu nhưng không báo cho cơ quan có trách nhiệm. Khi đánh giá trách nhiệm, cần đối chiếu cả quy định được dẫn chiếu, không suy luận rằng mọi trường hợp im lặng đều bị xử lý giống nhau.
Hoạt động phòng chống tội phạm cũng cần phân biệt việc báo tin với quá trình xử lý sau đó. Bạn có thể tham khảo riêng bài có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố không? và bài khởi tố xong bao lâu thì ra quyết định truy tố?.
Câu hỏi thường gặp
Che giấu khác không tố giác ở điểm nào?
Che giấu tội phạm là hành vi không hứa hẹn trước nhưng sau khi biết tội phạm đã xảy ra thì che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật hoặc cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý theo khoản 1 Điều 18 Bộ luật Hình sự 2015. Không tố giác tập trung vào việc biết rõ nhưng không báo theo khoản 1 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015.
Người thân có luôn được loại trừ trách nhiệm không?
Người thân không phải lúc nào cũng được loại trừ trách nhiệm. Khoản 2 Điều 18 và khoản 2 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015 quy định phạm vi người thân và những ngoại lệ riêng đối với hành vi che giấu hoặc không tố giác tội phạm.
Người bào chữa không tố giác có phải chịu trách nhiệm không?
Người bào chữa là người thực hiện việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội. Khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015 quy định trường hợp không phải chịu trách nhiệm và ngoại lệ khi người bào chữa biết rõ hành vi của chính người mình bào chữa trong quá trình bào chữa.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 4, Điều 19, Điều 8, Điều 18, Điều 390
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn trách nhiệm phòng chống tội phạm
Luật Sư 11 hỗ trợ đối chiếu quy định, phân biệt trách nhiệm tham gia với điều kiện xét thưởng và làm rõ vấn đề pháp lý trong tình huống cụ thể. Bạn có thể liên hệ để được tư vấn trên cơ sở thông tin, giấy tờ liên quan.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 16/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




