Nghe bài viết · 8 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Biên tập: Luật Sư 11 · Cập nhật 04/11/2026 · Đọc 10 phút
Cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi được không? Câu trả lời là không, kể cả khi quan hệ nuôi con nuôi đã chấm dứt. Điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi và giữa người đã từng có quan hệ này.
Cha, mẹ nuôi có được phép kết hôn với con nuôi không?
Cha, mẹ nuôi không được kết hôn với con nuôi dù hai bên không cùng huyết thống và tự nguyện đến với nhau. Điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình quy định trực tiếp trường hợp cấm này.
Kết hôn được hiểu là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo điều kiện pháp luật. Quan hệ nuôi con nuôi là quan hệ cha, mẹ và con được xác lập theo quy định của Luật Nuôi con nuôi.
Quy định trực tiếp trả lời câu hỏi cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi được không nằm trong nhóm hành vi bị cấm:
Cấm các hành vi sau đây:
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình.
Điểm d khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình đồng thời yêu cầu việc kết hôn không thuộc các trường hợp bị cấm. Vì vậy, sự đồng ý của hai bên hay của gia đình không làm thay đổi quy định cấm giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.
Chấm dứt nuôi con nuôi rồi có được kết hôn không?
Người đã từng là cha, mẹ nuôi vẫn không được kết hôn với người từng là con nuôi của mình. Việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi không loại bỏ trường hợp cấm tại điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình.

Theo khoản 1 Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình, khi việc nuôi con nuôi chấm dứt theo quyết định của Tòa án, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật.
Tuy nhiên, chấm dứt quyền, nghĩa vụ không đồng nghĩa với việc hai bên được phép kết hôn. Quy định cấm còn áp dụng với người đã từng là cha, mẹ nuôi và con nuôi.
Ví dụ minh họa (giả định): Một người từng được nhận làm con nuôi. Sau khi Tòa án quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi, người đó và cha nuôi cũ muốn kết hôn. Hai người vẫn thuộc trường hợp bị cấm theo điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình.
Do đó, khi hỏi cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi được không, người dân cần kiểm tra cả quan hệ nuôi dưỡng hiện tại lẫn quan hệ đã từng được xác lập.
Cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi bị xử phạt như thế nào?
Hành vi kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi là hành vi bị cấm và phải được xử lý đúng pháp luật. Tuy nhiên, các quy định tại Điều 5, Điều 8 và Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình không ấn định mức tiền phạt cụ thể.
Khoản 3 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Quy định này xác lập yêu cầu xử lý vi phạm, nhưng không phải căn cứ để tự xác định mức phạt.
Xử phạt hành chính là việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm. Muốn kết luận về hình thức xử phạt hành chính, mức phạt hoặc biện pháp áp dụng, cần có căn cứ quy định riêng cho hành vi tương ứng.
Vì vậy, câu trả lời cho cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi được không là rõ ràng: pháp luật cấm. Còn câu hỏi bị phạt bao nhiêu phải được tách riêng, không thể suy đoán chỉ từ điều khoản cấm.
Người đọc cũng không nên hiểu rằng chưa xác định được mức tiền phạt thì hành vi được phép thực hiện.
Thẩm quyền xử phạt hành vi cha, mẹ nuôi kết hôn với con nuôi thuộc về ai?
Điều 5, Điều 8 và Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình không xác định cụ thể chức danh có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với hành vi này. Khoản 3 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình quy định mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật; đồng thời, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm.

Thẩm quyền là phạm vi quyền giải quyết công việc mà pháp luật giao cho cơ quan hoặc người có chức trách. Thẩm quyền xử phạt là phạm vi quyền áp dụng hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm.
Cần phân biệt quyền tiếp nhận, giải quyết yêu cầu với quyền ra quyết định xử phạt. Không thể chỉ dựa vào việc khoản 3 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình nhắc đến Tòa án để kết luận Tòa án là cơ quan ra quyết định phạt tiền trong mọi trường hợp.
Khi đề nghị ngăn chặn hoặc xử lý, người phản ánh nên trình bày rõ quan hệ giữa các bên, hành vi đang xảy ra và thông tin có thể kiểm chứng. Đây là cách chuẩn bị thông tin, không phải danh mục hồ sơ bắt buộc được quy định tại các điều luật nêu trên.
Con nuôi và con đẻ có được kết hôn không?
Con nuôi và con đẻ của cùng cha, mẹ không đương nhiên bị cấm kết hôn chỉ vì cùng thuộc một gia đình. Hai người vẫn phải đáp ứng đầy đủ điều kiện tại Điều 8 và không thuộc trường hợp cấm tại Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình.

Quy định cấm giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi không thể được hiểu thành quy định cấm mọi cuộc hôn nhân giữa các thành viên trong gia đình có quan hệ nuôi con nuôi.
Bảng sau phân biệt các quan hệ đang xem xét theo điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình:
| Quan hệ giữa các bên | Quy định cần phân biệt |
|---|---|
| Cha, mẹ nuôi với con nuôi | Bị cấm kết hôn và chung sống như vợ chồng |
| Người từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi | Vẫn thuộc trường hợp bị cấm |
| Con nuôi với con đẻ của cha, mẹ nuôi | Không bị cấm chỉ vì quan hệ này; phải kiểm tra các điều kiện khác |
Người có nhu cầu kết hôn có thể tự rà soát theo trình tự:
- Xác định chính xác quan hệ giữa hai người, kể cả quan hệ nuôi con nuôi trước đây.
- Đối chiếu các trường hợp cấm tại điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Kiểm tra đầy đủ các điều kiện kết hôn tại khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình.
Kết luận “không bị cấm chỉ vì là con nuôi và con đẻ” không đồng nghĩa với việc chắc chắn đủ điều kiện kết hôn.
Câu hỏi thường gặp
Hai bên tự nguyện và đã trưởng thành thì có ngoại lệ không?
Không. Sự tự nguyện không thay thế yêu cầu về việc không thuộc trường hợp cấm kết hôn tại điểm d khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì thế, câu trả lời cho cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi được không vẫn là không.
Không đăng ký mà chỉ sống cùng nhau có được không?
Cha, mẹ nuôi và con nuôi không được chung sống như vợ chồng theo điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình. Chung sống như vợ chồng được hiểu ở đây là cùng sống trong quan hệ vợ chồng, khác với việc cùng cư trú để chăm sóc, nuôi dưỡng.
Người ngoài gia đình có được yêu cầu ngăn chặn không?
Có. Khoản 3 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn, xử lý vi phạm.
Khi phản ánh có được công khai thông tin riêng tư của các bên không?
Người phản ánh phải lưu ý việc bảo vệ thông tin riêng tư. Khoản 4 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu tôn trọng, bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác trong quá trình giải quyết.
Nếu đồng thời có nhu cầu tìm hiểu việc quản lý tài sản gia đình, bạn có thể đọc bài về phí sang tên sổ đỏ từ chồng sang vợ. Với câu hỏi về giấy tờ đất, các nội dung xác nhận nhân khẩu khi làm sổ đỏ hộ gia đình và nghĩa vụ thuế, lệ phí khi sang tên sổ đỏ giúp bạn tìm đúng chủ đề cần tham khảo.
Căn cứ pháp lý
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 121/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 5, Điều 8, Điều 78
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn quan hệ hôn nhân và nuôi con nuôi
Nếu cần làm rõ quan hệ gia đình hoặc hướng yêu cầu ngăn chặn hành vi bị cấm, bạn có thể liên hệ Luật Sư 11 qua luatsu11.vn để được tư vấn trên cơ sở tình tiết và giấy tờ cụ thể.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 04/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




