Biên tập: Luật Sư 11 · Cập nhật 01/11/2026 · Đọc 12 phút
Cá nhân có quyền được nhận làm con nuôi và quyền nuôi con nuôi theo khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015. Tuy nhiên, quy định ghi nhận quyền không đồng nghĩa với quy định về điều kiện, hồ sơ nhận con. Người đọc cần phân biệt quyền này với việc yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ đã xác lập.
Quyền nuôi con nuôi được pháp luật ghi nhận thế nào?
Quyền nhận trẻ làm con và quyền được nhận làm con nuôi thuộc nhóm quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình. Quyền nhân thân ở đây là những quyền gắn với cá nhân trong các quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con, cũng như giữa các thành viên gia đình.
Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình.”
Căn cứ: khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015.
Việc thực hiện các quyền này phải tuân theo Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và luật khác có liên quan, theo khoản 2 Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015.
Vì vậy, không nên hiểu rằng chỉ cần các bên mong muốn nhận trẻ làm con là đã đủ căn cứ hoàn tất thủ tục. Điều luật ghi nhận quyền, nhưng không liệt kê điều kiện của người nhận, điều kiện của trẻ hoặc thành phần hồ sơ đăng ký.
Cơ chế giới thiệu trẻ em thay đổi quy trình nhận con thế nào?
Các điều luật được viện dẫn trong bài chưa quy định cơ chế giới thiệu trẻ em hoặc việc thay thế thỏa thuận riêng giữa các bên. Vì thế, chưa có cơ sở để khẳng định quy trình nuôi con nuôi đã thay đổi theo hướng này.
Khi đọc thông tin về sửa đổi pháp luật, người nhận con nên kiểm tra nội dung đang được nhắc tới là đề xuất hay quy định đã được ban hành. Không nên lấy một tiêu đề về dự thảo làm căn cứ chuẩn bị hồ sơ hoặc quyết định thực hiện thủ tục.
Tương tự, chưa thể kết luận về việc thay đổi giới hạn tuổi của người nhận, bổ sung điều kiện sức khỏe hoặc thay đổi thứ tự ưu tiên giải quyết. Những nội dung đó cần được đối chiếu trực tiếp với văn bản quy định điều kiện và thủ tục tương ứng.
Quy chế phối hợp tại An Giang là gì và áp dụng cho ai?
Chưa thể xác định phạm vi áp dụng, cơ quan phối hợp hoặc trình tự xử lý tại An Giang chỉ từ các điều luật đang được viện dẫn. Những điều luật này không chứa nội dung quy chế địa phương về giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Vì vậy, bài viết không khẳng định cơ quan nào tiếp nhận trẻ bị bỏ rơi, thời gian tìm gia đình thay thế hoặc cách chuyển hồ sơ giữa các đơn vị. Muốn xác định chính xác, cần đối chiếu toàn văn quyết định ban hành quy chế và các văn bản mà quyết định đó viện dẫn.
Cũng chưa có căn cứ để giải thích mục đích ban hành riêng của quy chế. Người dân nên làm rõ phạm vi địa bàn, đối tượng và nhiệm vụ của từng cơ quan trước khi áp dụng thông tin về quy trình địa phương vào trường hợp của mình.
Ai có thẩm quyền giải quyết và trẻ cần đáp ứng điều kiện gì?
Các điều luật đang xem xét chưa đủ để xác định cơ quan giải quyết việc cho trẻ làm con nuôi nước ngoài hoặc điều kiện cụ thể của trẻ. Thẩm quyền là phạm vi công việc mà pháp luật giao cho một cơ quan giải quyết.
Cần phân biệt việc đăng ký nhận trẻ với yêu cầu chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi. Khoản 5 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 chỉ xác định yêu cầu chấm dứt thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; không thể dùng quy định này để kết luận Tòa án là nơi giải quyết thủ tục nhận trẻ.
Bảng sau giúp phân biệt phạm vi của từng quy định:
| Nội dung cần xác định | Quy định được viện dẫn làm rõ điều gì? | Nội dung chưa thể suy ra |
|---|---|---|
| Quyền nhận trẻ làm con | Cá nhân có quyền được pháp luật ghi nhận | Điều kiện và hồ sơ đăng ký |
| Yêu cầu chấm dứt quan hệ | Tòa án có thẩm quyền giải quyết loại yêu cầu này | Căn cứ để yêu cầu được chấp nhận |
| Quan hệ thừa kế | Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế của nhau | Phần tài sản cụ thể mỗi người được hưởng |
| Khả năng tự thực hiện giao dịch của trẻ | Có sự phân biệt theo nhóm tuổi và loại giao dịch | Điều kiện để trẻ được nhận làm con |
Người nhận con nên xác định đúng việc mình cần làm trước khi tìm cơ quan tiếp nhận: đăng ký quan hệ mới, giải quyết yêu cầu chấm dứt hay xử lý tài sản.
Vì sao chưa thể kết luận về thay đổi tư duy trong dự thảo?
Chưa có nội dung dự thảo để xác nhận việc thay đổi tư duy tiếp cận về nuôi con nuôi. Các nhận định như ưu tiên gia đình ruột, siết điều kiện người nhận hoặc thay đổi cơ chế giới thiệu trẻ cần được kiểm chứng bằng nội dung dự thảo cụ thể.
Điều có thể khẳng định là quyền nhận trẻ làm con phải được thực hiện theo pháp luật có liên quan, theo khoản 2 Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015. Quy định này không tự chứng minh rằng một đề xuất sửa đổi đã trở thành yêu cầu bắt buộc.
Khi tham khảo tư vấn, gia đình nên yêu cầu phân biệt rõ phần quy định hiện hành với phần kiến nghị. Cách trình bày đó giúp tránh chuẩn bị hồ sơ theo những yêu cầu chưa có căn cứ áp dụng.
Muốn chấm dứt việc nuôi con nuôi phải làm gì?
Yêu cầu chấm dứt quan hệ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 5 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Người yêu cầu phải gửi đơn và tài liệu chứng minh theo Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Quy định trực tiếp xác định loại yêu cầu này là:
“Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.”
Căn cứ: khoản 5 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Việc dân sự trong nội dung này được hiểu là yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề thuộc nhóm yêu cầu về hôn nhân và gia đình.
Người chuẩn bị hồ sơ có thể rà soát theo trình tự:
- Xác định Tòa án có thẩm quyền theo quy định được dẫn chiếu tại khoản 1 Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điều khoản này chưa đủ để tự xác định Tòa án cụ thể.
- Lập đơn có ngày làm đơn, tên Tòa án, thông tin người yêu cầu và người liên quan, nội dung đề nghị giải quyết, lý do, mục đích, căn cứ và chữ ký theo khoản 2 Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Gửi kèm tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu có căn cứ và hợp pháp theo khoản 3 Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Các quy định trên xác định yêu cầu về đơn và tài liệu đi kèm, không liệt kê căn cứ chấm dứt. Vì vậy, không thể khẳng định yêu cầu sẽ được chấp nhận chỉ vì hồ sơ đã đầy đủ về hình thức.
Con nuôi có quyền thừa kế từ cha mẹ nuôi không?
Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau theo Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015. Di sản được hiểu là tài sản mà người chết để lại.
Điều luật quy định:
“Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này.”
Căn cứ: Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015.
Quyền thừa kế có tính hai chiều giữa con và cha mẹ nuôi. Tuy nhiên, điều luật này không trực tiếp xác định phần tài sản được hưởng trong từng tình huống, nên chưa thể tính phần chia nếu chưa xem xét căn cứ khác.
Nếu tài sản gia đình liên quan đến nhà đất, bạn có thể đọc thêm bài về sang tên sổ đỏ cho vợ khi chồng chết. Với trường hợp có giấy viết tay để lại tài sản, bài di chúc thừa kế đất đai viết tay khi chưa được cấp sổ đỏ là chủ đề liên quan để tham khảo riêng.
Trẻ có thể tự thực hiện giao dịch tài sản đến đâu?
Khả năng tự thực hiện giao dịch của trẻ phụ thuộc vào độ tuổi và loại giao dịch theo Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015. Giao dịch dân sự được hiểu là việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi theo khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015. Các quy tắc giao dịch gồm:
- Giao dịch của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015.
- Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi cần sự đồng ý của người đại diện, trừ giao dịch sinh hoạt hằng ngày phù hợp lứa tuổi, theo khoản 3 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015.
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được tự giao dịch, trừ giao dịch về bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch khác cần sự đồng ý của người đại diện theo khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015.
Người đại diện theo pháp luật là người thay mặt cá nhân thực hiện công việc trong phạm vi pháp luật quy định. Khi tài sản liên quan đến hộ gia đình, bạn có thể tham khảo thêm bài xác nhận nhân khẩu khi làm sổ đỏ hộ gia đình.
Câu hỏi thường gặp
Các giải đáp sau giúp phân biệt quyền nuôi con nuôi với những quan hệ gia đình dễ bị nhầm lẫn.
Cha mẹ bị hạn chế quyền có đồng nghĩa chấm dứt quan hệ với con không?
Không thể đồng nhất các trường hợp này. Khoản 3 Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 vẫn buộc cha mẹ bị hạn chế quyền thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, tức nghĩa vụ đóng góp để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con.
Ai chăm sóc con khi cha hoặc mẹ bị hạn chế quyền?
Người còn lại thực hiện quyền chăm sóc, giáo dục, quản lý tài sản riêng và đại diện cho con theo khoản 1 Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Các trường hợp giao cho người giám hộ được quy định tại khoản 2 Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; người giám hộ là người thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền lợi theo pháp luật.
Trẻ có quyền khác nhau vì tình trạng hôn nhân của cha mẹ không?
Con có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ, không phụ thuộc tình trạng hôn nhân của cha mẹ, theo khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Dân sự 2015 (còn hiệu lực): Điều 39, Điều 653, Điều 21
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 362, Điều 29
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 121/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 87
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn nuôi con nuôi
Bạn có thể liên hệ Luật Sư 11 để trao đổi về nhu cầu nhận con, yêu cầu chấm dứt quan hệ hoặc quyền thừa kế trong gia đình. Khi làm việc với công ty luật, bạn nên chuẩn bị giấy tờ hiện có và trình bày rõ mong muốn để nội dung tư vấn bám sát tình huống thực tế.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 01/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




