Nghe bài viết · 9 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Biên tập: Luật Sư 11 · Cập nhật 27/10/2026 · Đọc 11 phút
Tiền mang theo nhưng không đánh bạc có được trả lại hay không phụ thuộc vào căn cứ giữ tiền. Nếu tiền không phải vật chứng, cơ quan có thẩm quyền có thể trả lại ngay cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tiền mang theo nhưng không đánh bạc có được trả lại không?
Tiền mang theo có thể được trả lại nếu không phải vật chứng. Ngay cả khi là vật chứng, khoản tiền vẫn có thể được hoàn trả nếu đáp ứng điều kiện luật định.

Xử lý vật chứng là việc cơ quan có thẩm quyền quyết định cách giải quyết đối với tiền, tài sản trong vụ án, chẳng hạn trả lại, tịch thu hoặc tiêu hủy. Căn cứ trực tiếp để trả lại tài sản không phải vật chứng được quy định như sau:
“Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;”
Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Nếu khoản tiền là vật chứng, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cho phép trả lại ngay khi việc hoàn trả không ảnh hưởng đến xử lý vụ án và thi hành án. Thi hành án được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án.
Vì vậy, câu trả lời cho câu hỏi tiền mang theo nhưng không đánh bạc có được trả không thể chỉ dựa vào lời trình bày của người mang tiền. Cần làm rõ vai trò của khoản tiền trong vụ án.
Tiền liên quan đến đánh bạc được xử lý theo nguyên tắc nào?
Việc xử lý tiền phải căn cứ vào tính chất của khoản tiền, không mặc nhiên dựa vào việc tiền được tìm thấy tại nơi có đánh bạc. Quyền sở hữu và ảnh hưởng của việc trả tiền đối với vụ án cũng cần được xem xét.

Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định việc tịch thu công cụ, phương tiện phạm tội và tiền, tài sản do phạm tội mà có. Tịch thu là việc tiền, tài sản bị thu để nộp ngân sách nhà nước hoặc xử lý theo trường hợp luật quy định.
Trong khi đó, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định các trường hợp được trả lại. Có thể đối chiếu như sau:
| Trường hợp | Hướng xử lý | Nội dung cần làm rõ |
|---|---|---|
| Tiền bị giữ nhưng không phải vật chứng | Có thể trả lại ngay | Chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp |
| Tiền là vật chứng nhưng việc trả lại không ảnh hưởng vụ án | Có thể trả lại ngay | Ảnh hưởng đến xử lý vụ án và thi hành án |
| Tiền là công cụ, phương tiện phạm tội hoặc do phạm tội mà có | Thuộc trường hợp tịch thu | Vai trò, nguồn gốc của tiền |
| Có tranh chấp quyền sở hữu đối với vật chứng | Giải quyết theo pháp luật về tố tụng dân sự | Người có quyền sở hữu |
Bởi vậy, cần tách biệt câu hỏi người mang tiền có tham gia đánh bạc hay không với câu hỏi tiền mang theo nhưng không đánh bạc có được trả.
Tiêu chí nào cần làm rõ để phân biệt tiền mang theo với tiền đánh bạc?
Việc xem xét cần tập trung vào mối liên hệ giữa khoản tiền với hành vi đánh bạc, quyền sở hữu và lý do tiếp tục giữ tiền. Các điều luật được viện dẫn không đặt ra một danh mục chứng từ bắt buộc để chứng minh tiền mang theo.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 xác định hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức được thua bằng tiền hay hiện vật, kèm những điều kiện chịu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý của người thực hiện hành vi phạm tội.
Khi chuẩn bị đề nghị hoàn trả, người có tiền nên làm rõ:
- Khoản tiền thuộc về ai và người mang tiền có căn cứ gì để quản lý khoản tiền đó.
- Tiền được mang theo để làm gì, có được đưa vào việc được thua hay không.
- Nội dung ghi nhận khi thu giữ có phù hợp với lời trình bày và giấy tờ liên quan hay không.
- Cơ quan có thẩm quyền đang xem khoản tiền là vật chứng hay tài sản không phải vật chứng.
Đây là những nội dung nên chuẩn bị, không phải bộ điều kiện được liệt kê nguyên văn trong luật.
Ví dụ minh họa (giả định): Một người mang tiền để thanh toán hàng hóa và có mặt tại nơi diễn ra đánh bạc nhưng không dùng tiền để chơi. Người đó có thể trình bày mục đích mang tiền và xuất trình giấy tờ liên quan; việc hoàn trả vẫn phụ thuộc vào đánh giá khoản tiền theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Không tham gia đánh bạc có đồng nghĩa được nhận lại tiền ngay không?
Việc không tham gia đánh bạc không tự động quyết định mọi khoản tiền đang bị giữ phải được trả ngay. Cơ quan có thẩm quyền vẫn cần xem xét khoản tiền có phải vật chứng và có ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hay không.
Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định nguyên tắc suy đoán vô tội. Suy đoán vô tội có nghĩa người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật.
Điều luật này cũng yêu cầu kết luận người bị buộc tội không có tội khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ buộc tội, kết tội. Tuy nhiên, Điều 13 không thay thế việc xem xét tài sản theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Người đọc muốn phân biệt trách nhiệm về hành vi với cách xử lý tài sản có thể tham khảo bài trả tiền khắc phục có thoát tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không. Kết luận của vụ việc khác không thể dùng để suy ra tiền mang theo nhưng không đánh bạc có được trả trong trường hợp của mình.
Muốn nhận lại tiền thì nên chuẩn bị và đề nghị thế nào?
Người có tiền nên đề nghị cơ quan đang giải quyết vụ án xem xét căn cứ giữ tiền và điều kiện hoàn trả. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không quy định mẫu đơn, bộ hồ sơ hay thời hạn trả lời cụ thể cho đề nghị này.

Để trình bày rõ yêu cầu, bạn có thể chuẩn bị theo trình tự thực tế sau:
- Đối chiếu giấy tờ ghi nhận việc thu giữ, tạm giữ để xác định số tiền và cơ quan đang giải quyết.
- Viết bản trình bày về nguồn gốc, mục đích mang tiền, quyền sở hữu và việc có sử dụng tiền để đánh bạc hay không.
- Tập hợp giấy tờ sẵn có hỗ trợ nội dung trình bày, tránh suy diễn hoặc bổ sung tình tiết không đúng.
- Gửi đề nghị xem xét trả lại tiền, nêu căn cứ phù hợp tại điểm a hoặc điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Giữ bản sao giấy tờ đã gửi và ghi nhận phản hồi để tiếp tục làm rõ nội dung còn thiếu.
Danh sách này là hướng dẫn chuẩn bị, không phải thủ tục bắt buộc được quy định đầy đủ tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Khi hỏi tiền mang theo nhưng không đánh bạc có được trả, bạn nên đề nghị làm rõ lý do khoản tiền tiếp tục bị giữ thay vì chỉ khẳng định mình không chơi.
Ai có thẩm quyền quyết định trả lại tiền?
Thẩm quyền xử lý tiền phụ thuộc vào giai đoạn giải quyết vụ án. Người đang trực tiếp giữ tiền không mặc nhiên là người có quyền quyết định hoàn trả.

Theo khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi vụ án đình chỉ ở giai đoạn điều tra, thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Khi đình chỉ ở giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát quyết định. Truy tố là giai đoạn Viện kiểm sát quyết định việc đưa người bị buộc tội ra Tòa án xét xử.
Nếu đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Chánh án Tòa án quyết định; nếu vụ án đã đưa ra xét xử, Hội đồng xét xử quyết định. Việc thi hành quyết định xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản theo khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Trường hợp đồng thời có thắc mắc về việc bị giữ người, bạn có thể đọc bài có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố không, nhưng cần tách câu hỏi đó khỏi yêu cầu nhận lại tài sản.
Câu hỏi thường gặp
Các câu trả lời sau giúp làm rõ những tình huống dễ nhầm khi đề nghị hoàn trả tiền.
Tiền cất trong túi có mặc nhiên là tiền đánh bạc không?
Các quy định được viện dẫn không xác lập nguyên tắc cứ tiền trong túi tại nơi đánh bạc là tiền dùng để đánh bạc. Cần làm rõ mối liên hệ thực tế của tiền với hành vi đang được xem xét.
Giấy tờ về nguồn tiền có bảo đảm được hoàn trả không?
Giấy tờ về nguồn tiền giúp giải thích nguồn gốc nhưng không tự quyết định kết quả. Việc trả lại còn phải được xem xét theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Có phải luôn chờ xét xử xong mới được trả tiền không?
Không. Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cho phép xem xét trả lại tài sản trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử khi đáp ứng điều kiện tương ứng.
Người khác nhận tiền là của họ thì giải quyết thế nào?
Nếu có tranh chấp quyền sở hữu đối với vật chứng, khoản 4 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định giải quyết theo pháp luật về tố tụng dân sự. Tranh chấp quyền sở hữu là bất đồng về việc ai có quyền sở hữu tài sản.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 172/VBHN-LQ-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 13, Điều 106
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 321
Luật Sư 11 hỗ trợ bảo vệ quyền lợi khi đề nghị trả lại tiền
Nếu cần xác định tiền mang theo nhưng không đánh bạc có được trả, bạn có thể liên hệ Luật Sư 11 để được tư vấn, rà soát giấy tờ thu giữ và chuẩn bị nội dung đề nghị phù hợp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 27/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




