Tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản: Mức án

Tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản: Mức án

Nghe bài viết · 16 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo

Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 06/11/2026 · Đọc 18 phút

Tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Mức xử lý phụ thuộc hành vi, loại rừng, loại thực vật, khối lượng hoặc trị giá và các trường hợp tương ứng tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Hành vi nào có thể bị xử lý về tội này?

Tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản bao gồm hành vi khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ, thực vật rừng ngoài gỗ khi đáp ứng trường hợp luật định. Việc áp dụng phải loại trừ trường hợp thuộc tội hủy hoại rừng theo phần mở đầu khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Quy định trực tiếp về hình phạt ở khung cơ bản được trích nguyên văn như sau:

“Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”

Phần mở đầu khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Khung hình phạt là khoảng hoặc loại hình phạt mà điều luật quy định cho một nhóm trường hợp phạm tội. Cải tạo không giam giữ là hình phạt không buộc người bị phạt phải chấp hành án trong cơ sở giam giữ.

Để xác định hành vi thuộc trường hợp nào, cần đối chiếu:

  • Người thực hiện khai thác hay tham gia khâu giữ, vận chuyển, chế biến, mua bán.
  • Rừng bị khai thác thuộc loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ hay rừng đặc dụng.
  • Rừng có nguồn gốc tự nhiên hay là rừng trồng.
  • Đối tượng là gỗ hay thực vật rừng ngoài gỗ, thuộc danh mục bảo vệ nào.
  • Khối lượng, trị giá và tình trạng xử lý vi phạm trước đó.

Vì vậy, không thể chỉ căn cứ việc “có chở gỗ” để kết luận một người phạm tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản.

Khai thác gỗ trái phép đến mức nào bị xử lý hình sự?

Ngưỡng xử lý khai thác gỗ trái phép thay đổi theo loại rừng, nguồn gốc rừng và nhóm thực vật. Khối lượng giống nhau nhưng lấy từ các loại rừng khác nhau có thể thuộc các trường hợp xử lý khác nhau theo Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Gỗ thông thường và gỗ thuộc nhóm quý, hiếm

Đối với rừng sản xuất là rừng trồng, ngưỡng cơ bản là từ 20 m³ đến dưới 40 m³ gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 15 m³ đến dưới 30 m³ gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA, theo điểm a khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên, ngưỡng tương ứng là từ 10 m³ đến dưới 20 m³ gỗ thông thường hoặc từ 07 m³ đến dưới 15 m³ gỗ thuộc danh mục nêu trên, theo điểm b khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với rừng phòng hộ là rừng trồng, ngưỡng tương ứng là từ 15 m³ đến dưới 30 m³ gỗ thông thường hoặc từ 10 m³ đến dưới 20 m³ gỗ thuộc danh mục nêu trên, theo điểm c khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, ngưỡng tương ứng là từ 07 m³ đến dưới 15 m³ gỗ thông thường hoặc từ 05 m³ đến dưới 10 m³ gỗ thuộc danh mục nêu trên, theo điểm d khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với rừng đặc dụng là rừng trồng, ngưỡng tương ứng là từ 10 m³ đến dưới 20 m³ gỗ thông thường hoặc từ 05 m³ đến dưới 10 m³ gỗ thuộc danh mục nêu trên, theo điểm đ khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với rừng đặc dụng là rừng tự nhiên, ngưỡng tương ứng là từ 03 m³ đến dưới 08 m³ gỗ thông thường hoặc từ 01 m³ đến dưới 03 m³ gỗ thuộc danh mục nêu trên, theo điểm e khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Các ngưỡng này cho thấy việc xác định đúng nguồn gốc rừng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xem xét tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản.

Gỗ thuộc diện bảo vệ nghiêm ngặt hơn

Đối với gỗ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA, ngưỡng cơ bản là từ 01 m³ đến dưới 02 m³ tại rừng sản xuất; từ 0,5 m³ đến dưới 1,5 m³ tại rừng phòng hộ; hoặc từ 0,5 m³ đến dưới 01 m³ tại rừng đặc dụng, theo điểm h khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Không nên dùng ngưỡng của gỗ thông thường để đánh giá loại gỗ thuộc các danh mục bảo vệ này.

Thực vật rừng ngoài gỗ được tính theo tiêu chí nào?

Thực vật rừng ngoài gỗ được xem xét theo trị giá trong các trường hợp quy định tại Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015. Cách hiểu trong phạm vi bài viết là đối tượng thực vật rừng được điều luật tách riêng với gỗ.

Người phụ nữ phân loại mây, rễ cây khô và lan rừng trên bàn gỗ ở hiên nhà sàn
Mây, rễ cây khô và lan rừng xếp trên bàn gỗ

Khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng thuộc điểm g khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với thực vật rừng thông thường ngoài gỗ, ngưỡng khai thác trái phép ở khung cơ bản là từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, theo điểm g khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với thực vật rừng ngoài gỗ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA, ngưỡng tương ứng là từ 30.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng, theo điểm i khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Khi xem xét tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản, cần phân biệt trị giá của hành vi khai thác với trị giá áp dụng cho hành vi vận chuyển hoặc mua bán.

Chỉ vận chuyển, mua bán gỗ có thể phạm tội không?

Người không trực tiếp chặt cây vẫn có thể bị xem xét nếu tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép đạt ngưỡng luật định. Tàng trữ được hiểu là cất giữ đối tượng mà điều luật điều chỉnh.

Hai người đàn ông trò chuyện bên xe tải nhỏ chở đầy ván gỗ xẻ tại bãi gỗ
Ván gỗ xẻ được chằng buộc trên xe tải nhỏ

Đối với các hành vi này, ngưỡng cơ bản được quy định như sau:

  • Gỗ thuộc danh mục ưu tiên bảo vệ, Nhóm IA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp có ngưỡng từ 1,5 m³ đến dưới 03 m³, theo điểm k khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc Phụ lục II của Công ước nêu trên có ngưỡng từ 10 m³ đến dưới 20 m³, theo điểm k khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Gỗ loài thực vật rừng thông thường có ngưỡng từ 20 m³ đến dưới 40 m³, theo điểm k khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Thực vật rừng ngoài gỗ có ngưỡng trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 600.000.000 đồng, theo điểm l khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Ví dụ minh họa (giả định): Một người vận chuyển trái phép 25 m³ gỗ loài thực vật rừng thông thường; riêng khối lượng này nằm trong khoảng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Ví dụ chưa đủ để kết luận mức án cụ thể. Việc đánh giá tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản còn phải đối chiếu các tình tiết khác, thay vì chỉ nhìn vào lượng gỗ trên phương tiện.

Khối lượng dưới ngưỡng có bị truy cứu không?

Hành vi dưới ngưỡng vẫn có thể bị xử lý nếu đáp ứng điều kiện về việc đã bị xử phạt hoặc đã bị kết án mà điều luật quy định. Điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015 điều chỉnh trường hợp này.

Cụ thể, người khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ hay thực vật rừng ngoài gỗ dưới mức quy định vẫn có thể thuộc trường hợp phạm tội nếu:

  • Người đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại điều luật.
  • Hoặc người đó đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Xử phạt vi phạm hành chính là việc xử lý vi phạm bằng biện pháp hành chính, khác với việc kết án về tội phạm. Xóa án tích là việc xóa tình trạng mang án tích của người đã bị kết án.

Do đó, khi đánh giá tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản, cần kiểm tra cả quyết định xử phạt hoặc bản án trước đó, không chỉ khối lượng của lần vi phạm đang xem xét.

Cá nhân có thể chịu những khung hình phạt nào?

Cá nhân có thể chịu phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù tùy trường hợp. Tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản có mức tù cao nhất đến 10 năm theo khoản 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Ba khung phạt tù đối với cá nhân theo khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 232
Khoản 1, khoản 2 còn quy định phạt tiền, khoản 3 chỉ phạt tù

Bảng sau giúp phân biệt cách áp dụng hình phạt giữa các nhóm trường hợp:

Nhóm trường hợpHình phạt chính được quy địnhĐặc điểm cần kiểm tra
Trường hợp cơ bảnPhạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tùHành vi, loại rừng, loại thực vật và ngưỡng tương ứng
Trường hợp nặng hơnPhạt tiền hoặc phạt tùNgưỡng cao hơn hoặc tình tiết riêng được liệt kê
Trường hợp có ngưỡng cao nhấtPhạt tùKhối lượng hoặc trị giá đạt mức luật định

Ở khung cơ bản, người phạm tội bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, theo khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Ở khung tiếp theo, hình phạt là phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, theo khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Ở khung cao nhất, hình phạt là phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, theo khoản 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng theo khoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Không nên lấy mức cao nhất làm mức án mặc định cho mọi người bị xem xét về tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản.

Những trường hợp nào làm khung hình phạt nặng hơn?

Khung hình phạt nặng hơn có thể xuất phát từ khối lượng, trị giá lớn hơn hoặc các tình tiết được điều luật liệt kê. Tình tiết định khung là dấu hiệu dùng để xác định hành vi thuộc khung hình phạt nào.

Khối lượng hoặc trị giá cao hơn

Ví dụ, khai thác trái phép rừng sản xuất là rừng trồng từ 40 m³ đến dưới 80 m³ gỗ thông thường thuộc điểm a khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Nếu cùng loại hành vi đó có khối lượng từ 80 m³ trở lên thì thuộc điểm a khoản 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ thông thường, khối lượng từ 40 m³ đến dưới 80 m³ thuộc điểm k khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Nếu khối lượng gỗ thông thường trong các hành vi nêu trên từ 80 m³ trở lên thì thuộc điểm k khoản 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Đây là lý do cần xác định chính xác khối lượng khi xem xét tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản.

Trường hợp có tổ chức, qua biên giới hoặc tái phạm nguy hiểm

Các điểm m, n, o khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015 liệt kê trường hợp có tổ chức; mua bán, vận chuyển qua biên giới; tái phạm nguy hiểm.

Các thuật ngữ “có tổ chức” và “tái phạm nguy hiểm” là dấu hiệu pháp lý để áp dụng khung nặng hơn; riêng điều luật này không giải thích đầy đủ điều kiện xác định từng dấu hiệu. Vì vậy, không nên tự đồng nhất việc có nhiều người tham gia với trường hợp “có tổ chức”, hoặc cứ từng vi phạm là “tái phạm nguy hiểm”.

Tổ chức thương mại bị xử lý như thế nào?

Pháp nhân thương mại cũng là chủ thể được quy định hình phạt riêng đối với tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản. Trong phạm vi bài viết, đây là tổ chức thương mại thuộc đối tượng xử lý mà khoản 5 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015 đề cập.

Mức phạt tiền tối đa của pháp nhân thương mại theo ba khung tại khoản 5 Điều 232
Điểm b, điểm c khoản 5 còn quy định đình chỉ hoạt động

Nếu phạm tội thuộc trường hợp cơ bản, pháp nhân thương mại bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng theo điểm a khoản 5 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Nếu thuộc trường hợp ở khung tiếp theo, hình phạt là phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 02 năm, theo điểm b khoản 5 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Nếu thuộc trường hợp ở khung cao nhất, hình phạt là phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động từ 01 năm đến 03 năm, theo điểm c khoản 5 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Đình chỉ hoạt động có thời hạn là việc buộc ngừng hoạt động trong khoảng thời gian được quyết định.

Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm, theo điểm d khoản 5 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015.

Phân biệt với tội hủy hoại rừng ra sao?

Tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản phải được phân biệt với hành vi đốt, phá hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng. Phần mở đầu khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015 đã loại trừ trường hợp thuộc Điều 243 của cùng Bộ luật.

So sánh tội vi phạm khai thác rừng với tội hủy hoại rừng theo ba tiêu chí
Hành vi, đối tượng và tiêu chí định lượng của hai tội
Tiêu chíVi phạm về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sảnHủy hoại rừngVi phạm bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Hành vi được mô tảKhai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái phépĐốt, phá hoặc hành vi khác hủy hoại rừngSăn bắt, giết, nuôi, nhốt và các hành vi khác được liệt kê
Đối tượng đối chiếuGỗ, thực vật rừng ngoài gỗRừng, cây trồng và lâm sản bị thiệt hạiĐộng vật, cá thể, bộ phận cơ thể, sản phẩm tương ứng
Tiêu chí định lượngKhối lượng hoặc trị giáDiện tích hoặc trị giá trong trường hợp luật địnhLoài, số lượng, khối lượng hoặc trường hợp luật định

Chẳng hạn, hành vi đốt, phá trái phép rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 m² đến dưới 10.000 m² thuộc trường hợp tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự 2015.

Trường hợp săn bắt, vận chuyển hoặc buôn bán động vật nguy cấp, quý, hiếm cần đối chiếu Điều 244 Bộ luật Hình sự 2015, thay vì mặc nhiên áp dụng quy định về gỗ.

Do đó, tên gọi “lâm sản” không có nghĩa mọi hành vi liên quan đến tài nguyên rừng đều được xử lý về tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản.

Câu hỏi thường gặp

Các câu trả lời sau tập trung vào cách đọc điều luật và chuẩn bị thông tin khi cần tư vấn.

Có thể dùng một bản án để đoán mức phạt của mình không?

Không nên lấy mức án trong vụ việc khác làm kết quả chắc chắn. Khi tham khảo bản án về tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản, cần đối chiếu hành vi, loại rừng, loại gỗ, khối lượng, trị giá và trường hợp áp dụng.

Có cần phân biệt gỗ trong nước với gỗ nước ngoài không?

Có. Điểm k khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự 2015 quy định riêng việc đối chiếu gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc các phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.

Nên chuẩn bị thông tin gì trước khi trao đổi với luật sư?

Người cần tư vấn về tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản nên chuẩn bị thông tin về hành vi, nguồn gốc gỗ, loại rừng, kết quả xác định khối lượng hoặc trị giá và giấy tờ xử lý trước đó nếu có. Đây là gợi ý chuẩn bị trao đổi, không phải danh mục hồ sơ bắt buộc.

Nếu đang quan tâm đến việc khởi tố, bạn có thể đọc thêm bài có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố không. Các nội dung về quy trình điều tra và truy tố tội đánh bạc và việc trả tiền khắc phục trong vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản là những chủ đề hình sự khác, cần phân biệt với căn cứ xử lý hành vi liên quan đến rừng.

Căn cứ pháp lý

Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn về hành vi liên quan đến rừng và lâm sản

Luật Sư 11 hỗ trợ rà soát hành vi, đối chiếu loại rừng, nhóm thực vật, khối lượng, trị giá và trường hợp xử lý đối với tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản. Bạn có thể liên hệ qua website để trao đổi tình tiết cụ thể và nhận tư vấn phù hợp với hồ sơ vụ việc.

Luật sư Nguyễn Thành Huân

Luật sư Nguyễn Thành Huân, Giám đốc điều hành Công ty Luật sư 11, hơn 15 năm kinh nghiệm tranh tụng và tư vấn về đất đai, nhà ở, thừa kế, hôn nhân gia đình và bào chữa hình sự.

Lĩnh vực: đất đai, nhà ở, thừa kế, hôn nhân gia đình, hình sự

Xem hồ sơ luật sư

Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 06/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button Zalo