Nghe bài viết · 14 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Biên tập: Luật Sư 11 · Cập nhật 07/11/2026 · Đọc 17 phút
Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc áp dụng đối với những người được liệt kê tại khoản 1 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015 khi can thiệp vào tài liệu, vật chứng nhằm làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc. Việc xác định trách nhiệm phải xem xét người thực hiện, hành vi, mục đích và hậu quả cụ thể.
Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc được quy định thế nào?
Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc được quy định tại Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015, với hành vi cơ bản được mô tả tại khoản 1 của điều luật. Quy định này xác định cả những người có thể phạm tội và cách thức tác động trái pháp luật vào tài liệu, vật chứng.
Khoản 1 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015 quy định nguyên văn:
“Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, người khác có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng tài liệu, vật chứng của vụ án, vụ việc hoặc bằng thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”
Có thể hiểu tội danh là tên gọi pháp lý dùng để xác định một hành vi phạm tội cụ thể. Với tội danh đang xét, trọng tâm không đơn thuần là hồ sơ bị thiếu hoặc tài liệu bị hỏng, mà là hành vi của người thuộc phạm vi điều luật, được thực hiện nhằm làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc.
Vì vậy, khi nghi ngờ hồ sơ bị can thiệp, cần phân biệt sự thay đổi về tài liệu với hành vi phạm tội. Không thể chỉ thấy tài liệu khác nhau rồi kết luận ngay một người đã phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc.
Những ai có thể bị xử lý về hành vi làm sai lệch hồ sơ?
Những người có thể bị xử lý gồm người có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp và một số người tham gia bảo vệ quyền lợi trong vụ án, vụ việc. Người thực hiện phải thuộc nhóm được khoản 1 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015 liệt kê.

Người có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp
Điều luật nêu các chức danh Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án và người khác có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp.
Điểm cần kiểm tra là nhiệm vụ, quyền hạn thực tế của người bị nghi ngờ đối với hoạt động liên quan. Việc một người làm việc tại cơ quan có giải quyết vụ án không thay thế cho việc xác định họ có thuộc nhóm người mà điều luật quy định hay không.
Người tham gia bảo vệ quyền lợi trong vụ án, vụ việc
Người bào chữa và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự cũng thuộc phạm vi điều luật. Trong cách hiểu gần gũi, người bào chữa là người tham gia để bảo vệ người bị buộc tội; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham gia để bảo vệ quyền lợi cho chủ thể mà mình hỗ trợ.
Như vậy, tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc không chỉ đặt ra đối với người làm việc trong cơ quan tiến hành giải quyết vụ án. Việc có vai trò bảo vệ quyền lợi cho người khác không cho phép người tham gia tự ý hủy, thay đổi hay đánh tráo tài liệu nhằm làm sai lệch nội dung vụ việc.
Cần đối chiếu tư cách với hành vi cụ thể
Khi đánh giá trách nhiệm, cần làm rõ người đó là ai, được giao nhiệm vụ gì và đã tác động vào tài liệu nào. Chỉ mô tả một người “có liên quan đến hồ sơ” chưa đủ để đối chiếu đầy đủ với quy định về người có thể phạm tội.
Hành vi nào có thể cấu thành tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc?
Các hành vi được nêu gồm thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng tài liệu, vật chứng hoặc dùng thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc. Khoản 1 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015 đặt yêu cầu về mục đích làm sai lệch bên cạnh hành vi tác động.

“Cấu thành tội phạm” được hiểu là tập hợp những dấu hiệu pháp lý cần xem xét để xác định hành vi có thuộc một tội danh hay không. Với quy định đang xét, người đọc nên tập trung vào người thực hiện, cách thức can thiệp, mục đích và hậu quả nếu có.
Thêm, bớt hoặc sửa đổi tài liệu
Thêm là đưa tài liệu hoặc nội dung vào; bớt là loại bỏ tài liệu hoặc nội dung; sửa đổi là làm thay đổi nội dung đang có. Những cách thức này phải được đặt trong yêu cầu chung của điều luật: nhằm làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc.
Không nên hiểu rằng mọi việc bổ sung hoặc chỉnh sửa tài liệu đều là phạm tội. Khi xem xét tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc, cần chỉ ra sự can thiệp cụ thể và mục đích làm sai lệch, thay vì chỉ dựa vào việc hồ sơ có thay đổi.
Đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng
Đánh tráo là thay tài liệu, vật chứng này bằng tài liệu, vật chứng khác. Hủy hoặc làm hư hỏng là tác động làm tài liệu, vật chứng bị mất đi hoặc bị tổn hại.
Vật chứng có thể hiểu ở mức khái quát là vật có liên quan đến việc làm rõ vụ án, vụ việc. Khi nghi ngờ vật chứng bị thay thế, cần xác định vật ban đầu, vật sau khi thay đổi và người đã thực hiện sự can thiệp.
Sử dụng thủ đoạn khác
Điều luật còn đề cập “bằng thủ đoạn khác”, nên việc xem xét không dừng ở các cách thức đã được liệt kê. Tuy nhiên, không thể dùng cụm từ này để bỏ qua yêu cầu chứng minh mục đích làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc.
Ví dụ minh họa (giả định): Một người có nhiệm vụ trong hoạt động tư pháp cố ý rút khỏi hồ sơ tài liệu thể hiện tình tiết có lợi cho người bị buộc tội, nhằm làm thay đổi nội dung vụ án. Tình huống cần được đối chiếu về tư cách người thực hiện, hành vi bớt tài liệu và mục đích, thay vì chỉ nhận xét chung rằng hồ sơ không đầy đủ.
Mức phạt của tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc là bao nhiêu?
Người phạm tội có thể chịu các mức phạt tù khác nhau tùy hành vi và trường hợp cụ thể. Các khoản 1, 2 và 3 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015 quy định những khung hình phạt tương ứng.

Khung hình phạt là khoảng hình phạt mà điều luật quy định cho một nhóm trường hợp phạm tội. Bảng sau giúp phân biệt tính chất các nhóm, không thay thế việc đối chiếu từng dấu hiệu pháp lý.
| Nhóm trường hợp | Dấu hiệu cần xem xét | Điểm phân biệt |
|---|---|---|
| Trường hợp cơ bản | Người thuộc phạm vi điều luật can thiệp nhằm làm sai lệch nội dung | Không đòi hỏi phải có các hậu quả được liệt kê ở những khung tiếp theo |
| Trường hợp tăng nặng | Có tổ chức, làm việc giải quyết bị sai lệch hoặc gây thiệt hại đạt ngưỡng luật định | Có thêm tình tiết làm tăng mức hình phạt áp dụng |
| Trường hợp nghiêm trọng hơn | Gây kết án oan, bỏ lọt tội phạm, dẫn đến tự sát hoặc gây thiệt hại ở ngưỡng cao hơn | Gắn với những hậu quả được điều luật quy định riêng |
Hình phạt đối với trường hợp cơ bản
Người thực hiện hành vi thuộc trường hợp cơ bản bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 1 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
Điểm cần lưu ý là quy định này sử dụng từ “nhằm”. Vì vậy, không nên cho rằng chỉ khi việc giải quyết vụ án thực tế đã sai lệch thì mới có thể xem xét trách nhiệm đối với tội danh này.
Hình phạt khi có tình tiết tăng nặng
Người phạm tội bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm nếu thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
Các trường hợp gồm:
- Phạm tội có tổ chức theo điểm a khoản 2 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
- Hành vi dẫn đến việc giải quyết vụ án, vụ việc bị sai lệch theo điểm b khoản 2 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
- Hành vi gây thiệt hại từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng theo điểm c khoản 2 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
“Tình tiết tăng nặng định khung” là dấu hiệu được điều luật dùng để chuyển hành vi sang khung hình phạt nặng hơn. Không cần đồng thời xuất hiện tất cả các trường hợp kể trên mới xem xét khung này, bởi điều luật quy định “thuộc một trong các trường hợp”.
Hình phạt khi có hậu quả nghiêm trọng hơn
Người phạm tội bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp tại khoản 3 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
Các trường hợp gồm:
- Hành vi dẫn đến kết án oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội theo điểm a khoản 3 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
- Hành vi làm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại hoặc đương sự tự sát theo điểm b khoản 3 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
- Hành vi gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên theo điểm c khoản 3 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
Kết án oan được hiểu là kết án người vô tội; bỏ lọt là để tội phạm hoặc người phạm tội không bị xử lý trong việc giải quyết vụ án. Việc áp dụng các trường hợp này đòi hỏi làm rõ hậu quả gắn với hành vi làm sai lệch, không chỉ nêu rằng hậu quả đã xuất hiện.
Hình phạt bổ sung
Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 4 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
Hình phạt bổ sung là hình phạt áp dụng thêm bên cạnh hình phạt chính. Với tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc, cần chú ý cách diễn đạt “còn bị cấm” trong điều luật, thay vì nhầm với quy định “còn có thể bị cấm” của tội danh khác.
Phân biệt với hành vi cung cấp tài liệu sai sự thật thế nào?
Hai tội danh khác nhau về nhóm người thực hiện và cách thức hành vi được mô tả. Không nên chỉ dựa vào kết quả “hồ sơ có thông tin sai” để lựa chọn tội danh.

Đối với tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc, trọng tâm là việc can thiệp vào tài liệu, vật chứng hoặc dùng thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung. Đối với tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối, trọng tâm là kết luận, dịch, khai gian dối hoặc cung cấp tài liệu mà người thực hiện biết rõ là sai sự thật.
Khác nhau về người thực hiện
Khoản 1 Điều 382 Bộ luật Hình sự 2015 liệt kê người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật và người bào chữa.
Người bào chữa xuất hiện trong cả hai quy định. Do đó, tư cách của người này chưa đủ để xác định tội danh; cần làm rõ họ đã can thiệp vào hồ sơ hay thực hiện hành vi kết luận, dịch, khai hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật.
Khác nhau về hình phạt
Trường hợp cơ bản của tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm theo khoản 1 Điều 382 Bộ luật Hình sự 2015.
Nếu có tổ chức hoặc dẫn đến việc giải quyết vụ án, vụ việc bị sai lệch, mức phạt tù là từ 01 năm đến 03 năm theo khoản 2 Điều 382 Bộ luật Hình sự 2015.
Nếu phạm tội từ 02 lần trở lên hoặc dẫn đến kết án oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội, mức phạt tù là từ 03 năm đến 07 năm theo khoản 3 Điều 382 Bộ luật Hình sự 2015.
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 4 Điều 382 Bộ luật Hình sự 2015.
Sự khác biệt này cho thấy cần xác định đúng hành vi trước khi so sánh mức phạt. Không thể chọn tội danh chỉ vì một quy định có hình phạt nhẹ hơn.
Người nghi ngờ hồ sơ bị làm sai lệch cần làm rõ những gì?
Người nghi ngờ hồ sơ bị can thiệp nên tập trung vào sự thay đổi cụ thể, người thực hiện và mục đích của hành vi. Đây là các nhóm thông tin giúp đối chiếu với khoản 1 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015, không phải một thủ tục kết luận có tội.

Có thể sắp xếp nội dung cần trao đổi với luật sư như sau:
- Xác định tài liệu hoặc vật chứng bị nghi ngờ đã bị thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng.
- Đối chiếu nội dung trước và sau sự thay đổi, tránh chỉ nêu nhận định rằng hồ sơ “không đúng”.
- Làm rõ người thực hiện và nhiệm vụ, quyền hạn hoặc tư cách tham gia của người đó.
- Chỉ ra thông tin thể hiện mục đích làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc.
- Phân biệt hậu quả đã xảy ra với hậu quả mới chỉ là lo ngại.
Việc đánh giá tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc cũng cần tách khỏi những câu hỏi khác trong quá trình giải quyết vụ án. Nếu đang quan tâm đến việc bị giữ người sau khi bị buộc tội, bạn có thể đọc bài có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố không.
Tương tự, câu hỏi về trả tiền khắc phục và trách nhiệm đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần được xem xét riêng, không dùng để thay thế việc xác định hành vi can thiệp hồ sơ.
Có thể dùng bản án điển hình để kết luận vụ việc tương tự không?
Không nên chỉ dựa vào sự giống nhau ở một vài tình tiết của bản án khác để kết luận một người phạm tội. Bản án là văn bản thể hiện quyết định xét xử của Tòa án đối với vụ án cụ thể; việc tham khảo phải gắn với những tình tiết thực tế đã được xác định.
Bài viết không giới thiệu một bản án cụ thể khi chưa có nội dung kiểm chứng để phân tích. Một ví dụ giả định cũng không thể được trình bày như vụ việc có thật hoặc dùng thay cho căn cứ xác định trách nhiệm.
Nếu tham khảo phân tích khung hình phạt tội giết người, người đọc cũng cần phân biệt quy định của tội danh đó với tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc. Mỗi hành vi phải được đối chiếu đúng quy định tương ứng.
Câu hỏi thường gặp
Các câu trả lời dưới đây tập trung vào những điểm dễ nhầm khi đối chiếu hành vi thực tế với điều luật.
Chưa gây thiệt hại về tiền thì có thể bị xử lý không?
Có thể xem xét nếu hành vi đáp ứng các dấu hiệu tại khoản 1 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015. Thiệt hại về tiền không phải dấu hiệu bắt buộc được nêu cho trường hợp cơ bản.
Vô ý làm hỏng tài liệu có đương nhiên phạm tội không?
Không thể đương nhiên kết luận như vậy. Khoản 1 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015 yêu cầu hành vi nhằm làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc, nên phải làm rõ mục đích chứ không chỉ tình trạng tài liệu bị hỏng.
Người bào chữa cung cấp tài liệu sai thì áp dụng tội nào?
Cần xem hành vi cụ thể để đối chiếu khoản 1 Điều 375 hoặc khoản 1 Điều 382 Bộ luật Hình sự 2015. Việc người bào chữa có tên trong cả hai điều luật không đồng nghĩa mọi hành vi của họ đều được xử lý giống nhau.
Việc giải quyết đã sai lệch có phải điều kiện bắt buộc trong mọi trường hợp không?
Không. Đây là trường hợp được quy định riêng tại điểm b khoản 2 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015; trường hợp cơ bản yêu cầu hành vi nhằm làm sai lệch theo khoản 1 Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 375, Điều 382
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn hành vi làm sai lệch hồ sơ
Luật Sư 11 hỗ trợ rà soát tình tiết, đối chiếu dấu hiệu pháp lý và phân biệt hành vi can thiệp hồ sơ với hành vi cung cấp thông tin sai sự thật. Nếu cần tư vấn về tội làm sai lệch hồ sơ vụ án vụ việc, bạn có thể liên hệ qua luatsu11.vn để trao đổi trên cơ sở tài liệu và diễn biến cụ thể.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 07/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




