Nghe bài viết · 10 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Biên tập: Luật Sư 11 · Cập nhật 23/10/2026 · Đọc 11 phút
Bị can bị cáo không đương nhiên được tại ngoại sau một khoảng thời gian tạm giam. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn áp dụng trong các trường hợp tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Khoản 1 Điều 121 và khoản 1 Điều 122 của Bộ luật này quy định các biện pháp thay thế tạm giam có thể được xem xét.
Tại ngoại là gì?
“Tại ngoại” là cách gọi thông thường khi người bị buộc tội không bị tạm giam trong quá trình giải quyết vụ án. Bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm là các biện pháp thay thế tạm giam được quy định tại Điều 121 và Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
“Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.”
Khoản 1 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp thay thế tạm giam bằng việc người bị buộc tội hoặc người thân thích đặt tiền theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, căn cứ khoản 1 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Gia đình cần phân biệt việc xin tại ngoại với việc xác định có tội. Được thay thế tạm giam không có nghĩa là vụ án đã kết thúc.
Bị can bị cáo tạm giam bao lâu thì được tại ngoại?
Điều 121 và Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không quy định phải tạm giam đủ một khoảng thời gian mới được bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm. Việc xem xét phụ thuộc vào các căn cứ của từng biện pháp, không chỉ dựa vào thời gian đã bị giam.
Đối với bảo lĩnh, cơ quan giải quyết xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân. Đối với đặt tiền để bảo đảm, tình trạng tài sản cũng là căn cứ đánh giá.
Thời hạn áp dụng các biện pháp thay thế không được vượt quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo khoản 5 Điều 121 và khoản 4 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Gia đình có thể đọc thêm về việc có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố hay không để phân biệt quyết định xử lý vụ án với quyết định tạm giam.
Những trường hợp nào có thể bị tạm giam?
Bị can bị cáo có thể bị tạm giam khi thuộc các trường hợp tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Không nên hiểu mọi căn cứ tạm giam đều đồng nghĩa với việc tuyệt đối không được xem xét biện pháp thay thế.

Các nhóm trường hợp được quy định như sau:
Người bị buộc tội về tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng có thể bị tạm giam theo khoản 1 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Người bị buộc tội về tội nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng có hình phạt tù trên 02 năm có thể bị tạm giam khi có căn cứ bổ sung theo khoản 2 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Các căn cứ gồm vi phạm biện pháp ngăn chặn khác; nơi cư trú hoặc lý lịch không rõ; bỏ trốn; tiếp tục phạm tội; hoặc tác động trái phép đến lời khai, chứng cứ và người liên quan.
Người bị buộc tội về tội ít nghiêm trọng có hình phạt tù đến 02 năm có thể bị tạm giam nếu tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, theo khoản 3 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Phụ nữ có thai, người đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu hoặc bị bệnh nặng, có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp khác theo khoản 4 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tuy nhiên, chính khoản này có ngoại lệ: bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; tiếp tục phạm tội; cản trở việc giải quyết vụ án bằng các hành vi được liệt kê; hoặc liên quan tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ về nguy hại nếu không tạm giam.
Ai được nhận bảo lĩnh cho bị can bị cáo?
Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho người của mình; cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho người thân thích khi đáp ứng điều kiện. Người nhận bảo lĩnh phải lập giấy cam đoan theo khoản 2 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Điều kiện và giấy tờ cần phân biệt như sau:
Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan được người đứng đầu xác nhận.
Theo khoản 2 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cá nhân nhận bảo lĩnh phải đủ 18 tuổi trở lên, có nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh; trường hợp cá nhân nhận bảo lĩnh phải có ít nhất 02 người theo khoản 2 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Giấy cam đoan của cá nhân phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập xác nhận.
Bị can bị cáo được bảo lĩnh phải có giấy cam đoan thực hiện nghĩa vụ theo khoản 3 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Người nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để người được bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ. Họ được thông báo những tình tiết vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.
Đặt bao nhiêu tiền thì được tại ngoại?
Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không ấn định một mức tiền cụ thể áp dụng chung. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào điều luật này để khẳng định gia đình nộp một khoản tiền nhất định là được tại ngoại.

Khoản 6 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 giao các cơ quan có trách nhiệm quy định chi tiết mức tiền và thủ tục liên quan. Việc quyết định cho đặt tiền vẫn phải căn cứ vào hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản.
Tiền đặt để bảo đảm cũng khác với tiền khắc phục hậu quả. Bạn có thể tham khảo thêm bài trả tiền khắc phục có thoát tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không để tránh nhầm lẫn giữa các mục đích giao nộp tiền.
Nếu chấp hành đầy đủ nghĩa vụ cam đoan, người đặt tiền được trả lại tiền theo khoản 4 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Xin tại ngoại cho bị can bị cáo cần chuẩn bị và thực hiện thế nào?
Gia đình cần xác định biện pháp muốn đề nghị và chuẩn bị giấy cam đoan tương ứng. Điều 121 và Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không liệt kê một bộ hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn thống nhất để áp dụng cho mọi trường hợp.

Gia đình có thể chuẩn bị theo hướng sau, nhưng không nên coi đây là trình tự thủ tục đầy đủ thay cho hướng dẫn của cơ quan giải quyết:
Xác định đề nghị bảo lĩnh hay đặt tiền để bảo đảm dựa trên điều kiện thực tế.
Chuẩn bị giấy cam đoan của người nhận bảo lĩnh và người được bảo lĩnh; lấy xác nhận đúng chủ thể theo Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Nếu đề nghị đặt tiền, chuẩn bị giấy cam đoan của người được áp dụng biện pháp; người thân thích đặt tiền phải cam đoan theo khoản 5 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Làm rõ cơ quan đang giải quyết vụ án và đề nghị được hướng dẫn việc tiếp nhận, xem xét.
Về thẩm quyền, khoản 4 Điều 121 và khoản 3 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 dẫn chiếu đến những người tại khoản 1 Điều 113, đồng thời quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định.
Quyết định của những người thuộc điểm a khoản 1 Điều 113 phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành, theo các quy định nêu trên. Vì vậy, giấy cam đoan của gia đình chưa thay thế được quyết định có thẩm quyền.
Việc xác định giai đoạn vụ án có thể tham khảo thêm bài khởi tố xong bao lâu thì ra quyết định truy tố.
Bị can bị cáo được tại ngoại phải tuân thủ nghĩa vụ gì?
Người được bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm vẫn phải có mặt theo giấy triệu tập và không được cản trở việc giải quyết vụ án. Các nghĩa vụ được quy định tại khoản 3 Điều 121 và khoản 2 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Người được áp dụng biện pháp phải cam đoan:
- Có mặt theo giấy triệu tập, trừ lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
- Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội.
- Không tác động để người khác khai gian, cung cấp tài liệu sai sự thật; không hủy, giả mạo chứng cứ hoặc tẩu tán tài sản liên quan.
- Không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác và người thân thích của họ.
Vi phạm nghĩa vụ cam đoan dẫn đến bị tạm giam. Đối với đặt tiền để bảo đảm, tiền đã đặt còn bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo khoản 2 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Câu hỏi thường gặp
Có thể chỉ nhờ một người thân nhận bảo lĩnh không?
Trường hợp cá nhân nhận bảo lĩnh phải có ít nhất 02 người đáp ứng điều kiện theo khoản 2 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh áp dụng điều kiện riêng tại cùng khoản.
Người nhận bảo lĩnh có thể bị xử lý không?
Cơ quan, tổ chức, cá nhân để người được bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ cam đoan có thể bị phạt tiền tùy tính chất, mức độ vi phạm theo khoản 6 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Sau khi tuyên án còn được bảo lĩnh không?
Khoản 5 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá khoảng thời gian từ khi tuyên án đến khi đi chấp hành án. Quy định này không có nghĩa mọi người bị kết án đều được bảo lĩnh.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 172/VBHN-LQ-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 121, Điều 122, Điều 119, Điều 113
Luật Sư 11 hỗ trợ xin tại ngoại như thế nào?
Luật Sư 11 hỗ trợ xem xét căn cứ tạm giam, điều kiện bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm và giấy cam đoan cần chuẩn bị. Gia đình có thể liên hệ để được tư vấn theo tình tiết vụ án; việc chấp nhận đề nghị thuộc cơ quan, người có thẩm quyền.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 23/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




