Tội ra bản án trái pháp luật: Dấu hiệu và hình phạt

Tội ra bản án trái pháp luật: Dấu hiệu và hình phạt

Nghe bài viết · 14 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo

Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 28/10/2026 · Đọc 16 phút

Tội ra bản án trái pháp luật áp dụng đối với Thẩm phán, Hội thẩm ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật. Mức phạt tù từ 01 năm đến 15 năm, tùy trường hợp, theo các khoản 1, 2 và 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định.

Hành vi nào cấu thành tội ra bản án trái pháp luật?

Tội ra bản án trái pháp luật là hành vi của Thẩm phán, Hội thẩm ra bản án mà người đó biết rõ là trái pháp luật. Yếu tố cần xác định là cả tính trái pháp luật của bản án và nhận thức của người ra bản án, theo khoản 1 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.

Bàn gỗ cạnh cửa sổ với tập bản án dày mở sẵn, bàn tay cầm bút và chồng hồ sơ buộc dây
Khoảnh khắc cây bút dừng trên trang bản án chưa ký

Quy định trực tiếp về hành vi và mức hình phạt cơ bản như sau:

“Thẩm phán, Hội thẩm nào ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”
Căn cứ: khoản 1 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.

“Cấu thành tội phạm” có thể hiểu là tập hợp những dấu hiệu pháp lý cần đối chiếu để xác định một hành vi có thuộc tội phạm cụ thể hay không. Với hành vi đang xét, không thể chỉ nhìn vào kết quả bản án rồi bỏ qua người thực hiện và nhận thức của họ.

Cụm từ “biết rõ là trái pháp luật” thể hiện người ra bản án nhận thức rõ tính trái pháp luật của bản án nhưng vẫn thực hiện hành vi. Vì vậy, việc một bên không đồng ý với phán quyết chưa tự nó chứng minh được dấu hiệu này.

Khi xem xét tội ra bản án trái pháp luật, cần tách biệt câu hỏi “bản án có trái pháp luật không?” với câu hỏi “người ra bản án có biết rõ điều đó không?”. Hai nội dung phải được làm rõ đồng thời, thay vì suy đoán nhận thức chỉ từ việc bản án gây bất lợi cho một bên.

Ai có thể là người phạm tội theo quy định này?

Thẩm phán và Hội thẩm là những chủ thể được khoản 1 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 nêu trực tiếp. Không thể áp dụng điều khoản này cho mọi người có chức vụ hoặc mọi người tham gia giải quyết vụ việc.

“Chủ thể của tội phạm” là người có hành vi đáp ứng các dấu hiệu mà điều luật mô tả. Đối với tội ra bản án trái pháp luật, chức danh của người thực hiện là dấu hiệu phải đối chiếu trước khi xem xét các nội dung khác.

Tuy nhiên, có chức danh phù hợp chưa đủ để kết luận phạm tội. Người đó còn phải thực hiện hành vi ra bản án và biết rõ bản án trái pháp luật. Nếu chỉ xác định được một người là Thẩm phán hoặc Hội thẩm mà chưa làm rõ hành vi, nhận thức thì chưa đủ cơ sở kết luận theo điều khoản này.

Cũng không nên đồng nhất người ra bản án với người ra quyết định trong hoạt động tố tụng, thi hành án. Tố tụng được hiểu ở đây là hoạt động giải quyết vụ việc theo trình tự pháp luật; thi hành án là hoạt động thực hiện bản án, quyết định. Điều 371 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định riêng về người có thẩm quyền ra quyết định trái pháp luật.

Có phải gây thiệt hại mới bị xử lý hình sự không?

Khoản 1 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 không đặt ra mức thiệt hại tài sản hoặc hậu quả cụ thể như một dấu hiệu được nêu trong quy định cơ bản. Điều khoản này trực tiếp mô tả việc Thẩm phán, Hội thẩm ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật.

Vì vậy, không thể cho rằng chỉ khi có tổn thất tiền bạc thì mới xem xét tội ra bản án trái pháp luật. Ngược lại, cũng không thể chỉ dựa vào thiệt hại thực tế để bỏ qua việc xác định người thực hiện và yếu tố biết rõ.

Hậu quả vẫn có ý nghĩa khi xác định mức độ xử lý. Các khoản 2 và 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 quy định những trường hợp liên quan đến tổn thương sức khỏe, thiệt hại tài sản, việc tự sát hoặc ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Cần phân biệt hậu quả xảy ra sau bản án với hậu quả do hành vi ra bản án trái pháp luật gây ra. Khi viện dẫn tình tiết có từ “gây” hoặc “dẫn đến”, việc đối chiếu phải làm rõ mối liên hệ giữa hành vi và hậu quả, không chỉ ghi nhận rằng hai sự việc cùng tồn tại.

Hình phạt đối với tội ra bản án trái pháp luật được chia thế nào?

Hình phạt là biện pháp xử lý đối với người phạm tội mà điều luật quy định. Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 phân chia mức phạt tù theo tính chất, tình tiết và hậu quả của hành vi.

Ba khung phạt tù của tội ra bản án trái pháp luật, từ nhẹ đến nặng theo Điều 370
Mức phạt tù tăng dần theo các khoản 1, 2 và 3

“Khung hình phạt” là khoảng hình phạt áp dụng cho nhóm trường hợp được mô tả trong cùng một khoản của điều luật. Các mức phạt đối với tội ra bản án trái pháp luật gồm:

  • Người thực hiện hành vi thuộc trường hợp cơ bản bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 1 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Người phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
  • Người phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại khoản 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

“Tình tiết định khung” là tình tiết được điều luật dùng để xác định hành vi thuộc khung hình phạt nào. Không cần đồng thời xuất hiện tất cả các tình tiết trong cùng một khoản, bởi điều luật sử dụng cách quy định “thuộc một trong các trường hợp”.

Mức cao nhất của một khung không có nghĩa mọi người phạm tội thuộc khung đó đều chịu mức cao nhất.

Những trường hợp nào làm tăng khung hình phạt?

Các trường hợp tăng khung của tội ra bản án trái pháp luật được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015. Những tình tiết này liên quan đến số lần phạm tội, người bị tác động, nội dung bản án và hậu quả.

Số lần phạm tội và người bị tác động được xem xét ra sao?

Phạm tội 02 lần trở lên thuộc điểm a khoản 2 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015. Cần phân biệt số lần thực hiện hành vi phạm tội với số lượng người liên quan trong một vụ việc.

Hành vi đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà người phạm tội biết là có thai hoặc người già yếu thuộc điểm b khoản 2 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với phụ nữ có thai, điều luật có yêu cầu về nhận thức của người phạm tội. Vì vậy, không nên lược bỏ cụm “mà biết là có thai” khi phân tích hoặc viện dẫn tình tiết này.

Kết án oan và bỏ lọt tội phạm được quy định thế nào?

Kết án oan là việc kết án người vô tội. Kết án oan người vô tội về tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng thuộc điểm c khoản 2 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.

Bỏ lọt tội phạm được hiểu là để tội phạm hoặc người phạm tội không bị xử lý trong trường hợp điều luật mô tả. Bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng, người phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng thuộc điểm d khoản 2 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.

Các cụm “nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng” và “đặc biệt nghiêm trọng” là tên các nhóm phân loại tội phạm được điều luật sử dụng. Không nên tự xác định nhóm phân loại chỉ bằng cảm nhận về mức độ thiệt hại hoặc sự bức xúc của người liên quan.

Hậu quả về sức khỏe, tài sản và trật tự xã hội được tính thế nào?

Hành vi gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thuộc điểm đ khoản 2 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.

Ở đây, bị cáo, người bị hại và đương sự là những tư cách tham gia vụ việc được điều luật trực tiếp liệt kê. Không nên tự mở rộng danh sách người bị tác động khi áp dụng tình tiết này.

Hành vi gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng thuộc điểm e khoản 2 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.

Hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thuộc điểm g khoản 2 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015. Đây là tình tiết riêng, không phải điều kiện bắt buộc phải đi kèm thiệt hại tài sản.

Khi nào người phạm tội phải chịu khung nặng nhất?

Khung nặng nhất của tội ra bản án trái pháp luật áp dụng khi hành vi thuộc một trong các trường hợp tại khoản 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015. Mức phạt tù trong khung này là từ 10 năm đến 15 năm, theo khoản 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.

Các trường hợp cụ thể gồm:

  • Người phạm tội kết án oan người vô tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, theo điểm a khoản 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Người phạm tội bỏ lọt tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, theo điểm b khoản 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Hành vi gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, theo điểm c khoản 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Hành vi dẫn đến bị cáo, người bị hại, đương sự tự sát, theo điểm d khoản 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Hành vi gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên, theo điểm đ khoản 3 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với hậu quả tự sát, cần giữ đúng cách diễn đạt “dẫn đến”. Không thể tự thay tình tiết này bằng một biểu hiện tâm lý khác rồi áp dụng tương đương.

Nếu muốn tìm hiểu riêng về tội xâm phạm tính mạng, bạn có thể đọc bài phân tích khung hình phạt tội giết người. Việc đối chiếu phải dựa vào dấu hiệu của từng tội, không chỉ dựa trên hậu quả có người tử vong.

Ngoài phạt tù, người phạm tội còn bị xử lý thế nào?

Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 4 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015. Đây là nội dung xử lý được quy định thêm bên cạnh hình phạt tù.

“Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định” có thể hiểu là không cho người phạm tội đảm nhiệm những chức vụ nhất định trong thời gian bị cấm. Khoản luật này dùng từ “còn bị”, không diễn đạt rằng chỉ cần nộp tiền hoặc khắc phục thiệt hại là thay thế được việc cấm đảm nhiệm chức vụ.

Khi tìm hiểu tội ra bản án trái pháp luật, người đọc cần xem cả hình phạt tù và nội dung cấm đảm nhiệm chức vụ. Chỉ nêu mức tù cao nhất sẽ chưa phản ánh đầy đủ hậu quả pháp lý mà điều luật quy định.

Với câu hỏi về tác động của việc trả tiền, bạn có thể tham khảo thêm bài trả tiền khắc phục có thoát tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không. Không nên chuyển nguyên kết luận của một tội danh sang tội danh khác.

Phân biệt với hành vi ra quyết định và ra mệnh lệnh trái pháp luật thế nào?

Tội ra bản án trái pháp luật cần được phân biệt với hành vi ra quyết định trái pháp luật và ra mệnh lệnh trái pháp luật. Căn cứ đối chiếu trước hết là người thực hiện, loại hành vi và các điều kiện được mô tả trong từng điều luật.

Hai đồng nghiệp ngồi bàn gỗ trong thư viện, so sánh ba bộ tài liệu đặt cạnh nhau
Ba loại văn bản được xếp thành hàng để so sánh
Tiêu chíRa bản án trái pháp luậtRa quyết định trái pháp luậtRa mệnh lệnh trái pháp luật
Người thực hiệnThẩm phán, Hội thẩmNgười có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành ánNgười lợi dụng chức vụ, quyền hạn
Hành viRa bản án mà mình biết rõ là trái pháp luậtRa quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luậtRa mệnh lệnh trái pháp luật
Hậu quả trong quy định cơ bảnKhông nêu mức thiệt hại cụ thểCó yêu cầu về thiệt hại hoặc lợi ích, quyền bị xâm phạmGây hậu quả nghiêm trọng
Cấm đảm nhiệm chức vụCó quy địnhCó quy địnhĐiều luật không nêu nội dung này

Bảng đối chiếu dựa trên Điều 370, Điều 371 và Điều 393 Bộ luật Hình sự 2015. Mệnh lệnh trong bảng được hiểu là yêu cầu thực hiện công việc do người có chức vụ, quyền hạn đưa ra.

Đối với hành vi ra quyết định, khoản 1 Điều 371 Bộ luật Hình sự 2015 quy định thiệt hại tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Điều khoản này còn đặt điều kiện không thuộc trường hợp quy định tại các điều 368, 369, 370, 377 và 378 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với hành vi ra mệnh lệnh, khoản 1 Điều 393 Bộ luật Hình sự 2015 mô tả việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra mệnh lệnh trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng. Không thể chỉ vì cùng có cụm “trái pháp luật” mà áp dụng thay thế các điều luật cho nhau.

Người nghi ngờ bản án trái pháp luật nên đối chiếu những gì?

Người nghi ngờ có tội ra bản án trái pháp luật nên hệ thống thông tin theo từng dấu hiệu của điều luật. Việc trình bày rõ sự kiện có ích hơn việc chỉ khẳng định bản án “xử sai” hoặc “không công bằng”.

Bốn bước đối chiếu khi nghi ngờ bản án có dấu hiệu trái pháp luật
Trình tự đối chiếu theo dấu hiệu của điều luật

Có thể đối chiếu theo trình tự sau:

  1. Xác định người thực hiện có phải Thẩm phán hoặc Hội thẩm và hành vi đang xem xét có phải ra bản án hay không.
  2. Nêu cụ thể nội dung bị cho là trái pháp luật, thay vì chỉ trình bày sự không đồng ý với kết quả.
  3. Tách riêng thông tin thể hiện người ra bản án biết rõ tính trái pháp luật.
  4. Ghi nhận hậu quả và căn cứ liên hệ hậu quả với hành vi, nếu có.

Ví dụ minh họa (giả định): Một bên cho rằng bản án gây thiệt hại tài sản nên kết luận người ra bản án đã phạm tội. Chừng đó thông tin chưa đủ để kết luận; vẫn cần làm rõ nội dung trái pháp luật và yếu tố biết rõ của Thẩm phán, Hội thẩm.

Trách nhiệm hình sự và việc áp dụng biện pháp trong quá trình giải quyết vụ án là những nội dung cần tìm hiểu riêng. Bạn có thể đọc thêm bài có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố không để tránh đồng nhất việc bị xem xét trách nhiệm với việc bị tạm giam.

Câu hỏi thường gặp

Có thể kết luận phạm tội chỉ vì một bên không đồng ý với bản án không?

Không. Khoản 1 Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 yêu cầu hành vi ra bản án mà người thực hiện biết rõ là trái pháp luật. Sự không đồng ý của một bên không thay thế được các dấu hiệu này.

Tình tiết phạm tội có tổ chức có được nêu riêng trong điều luật không?

Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 không liệt kê riêng tình tiết “có tổ chức”. Trong khi đó, điểm a khoản 2 Điều 371 Bộ luật Hình sự 2015 có nêu tình tiết này đối với tội ra quyết định trái pháp luật.

Người ra bản án có được lựa chọn nộp phạt tiền thay cho phạt tù không?

Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định hình phạt tiền hoặc cơ chế lựa chọn nộp tiền thay cho phạt tù. Không có cơ sở từ điều luật này để khẳng định người phạm tội được tự chọn cách xử lý đó.

Có thể tự suy ra nguyên nhân phạm tội là do nhận tiền không?

Không nên suy diễn như vậy. Điều 370 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định nhận tiền là dấu hiệu bắt buộc của tội ra bản án trái pháp luật; việc xác định nguyên nhân, động cơ phải dựa trên thông tin cụ thể của vụ việc.

Căn cứ pháp lý

Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn về bản án có dấu hiệu trái pháp luật

Luật Sư 11 hỗ trợ bạn rà soát nội dung bản án, phân biệt sự không đồng ý với phán quyết và dấu hiệu của tội ra bản án trái pháp luật. Bạn có thể liên hệ qua luatsu11.vn để trao đổi tình tiết, xác định thông tin cần làm rõ và được tư vấn hướng xử lý phù hợp với vụ việc.

Luật sư Nguyễn Thành Huân

Luật sư Nguyễn Thành Huân, Giám đốc điều hành Công ty Luật sư 11, hơn 15 năm kinh nghiệm tranh tụng và tư vấn về đất đai, nhà ở, thừa kế, hôn nhân gia đình và bào chữa hình sự.

Lĩnh vực: đất đai, nhà ở, thừa kế, hôn nhân gia đình, hình sự

Xem hồ sơ luật sư

Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 28/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button Zalo