Nghe bài viết · 10 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 28/10/2026 · Đọc 11 phút
Cá nhân có thể tố giác tội phạm bằng lời hoặc văn bản với cơ quan có thẩm quyền theo khoản 1 và khoản 4 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp biết sự việc mà im lặng đều bị xử lý; trách nhiệm còn phụ thuộc Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015.
Tố giác tội phạm là gì?
Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Người phản ánh cần trình bày sự việc mình biết, không phải tự kết luận người bị phản ánh đã phạm tội.
Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định:
“Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.”
Cần phân biệt hành vi phản ánh với không tố giác tội phạm, tức biết rõ tội phạm thuộc phạm vi luật quy định nhưng không báo cho cơ quan có thẩm quyền. Việc xem xét trách nhiệm đối với sự im lặng phải đối chiếu Điều 390 và các ngoại lệ tại Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015.
Muốn tố giác tội phạm thì làm thế nào?
Bạn có thể trình bày bằng lời hoặc lập văn bản theo khoản 4 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Đơn viết sẵn không phải hình thức duy nhất để cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận thông tin.

Bạn có thể chuẩn bị và thực hiện theo trình tự sau:
- Ghi lại diễn biến sự việc. Nên tách rõ điều trực tiếp chứng kiến, thông tin nghe từ người khác và nhận định cá nhân.
- Sắp xếp tài liệu liên quan. Có thể tập hợp thông tin, tài liệu, đồ vật để phục vụ kiểm tra, xác minh theo điểm a khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Trình bày hoặc gửi thông tin. Có thể trực tiếp phản ánh, gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc phương tiện thông tin khác theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Khi tiếp nhận trực tiếp, cơ quan có trách nhiệm phải lập biên bản và ghi vào sổ tiếp nhận; biên bản là văn bản ghi nhận việc tiếp nhận, nội dung được trình bày. Nếu gửi bằng phương thức khác, thông tin được ghi vào sổ theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Bạn có thể tham khảo cách trình bày qua bài quy trình phản ánh hành vi làm nhục người khác, nhưng cần điều chỉnh theo đúng sự việc mình biết.
Tố giác tội phạm ở cơ quan nào?
Bạn có thể đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Công an cấp xã, Đồn Công an để phản ánh sự việc. Tiếp nhận thông tin và giải quyết thông tin là những trách nhiệm cần phân biệt.
Theo khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận theo quy định. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Công an cấp xã, Đồn Công an phải tiếp nhận, lập biên bản, kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay thông tin cùng tài liệu, đồ vật liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo khoản 3 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Nếu không thuộc thẩm quyền giải quyết, Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát phải chuyển ngay thông tin đã nhận theo khoản 2 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Vì vậy, bạn cần phân biệt việc chuyển thông tin với việc từ chối tiếp nhận.
Thời hạn giải quyết là bao lâu?
Thời hạn thông thường là 20 ngày kể từ ngày nhận được thông tin, theo khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Vụ việc phức tạp hoặc cần xác minh tại nhiều địa điểm có thể được kéo dài, gia hạn theo điều kiện luật định.

Cụ thể, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng theo khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nếu chưa thể kết thúc xác minh, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng, cũng theo khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Các kết quả giải quyết tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 được phân biệt như sau:
| Kết quả | Ý nghĩa để người phản ánh theo dõi |
|---|---|
| Khởi tố vụ án hình sự | Quyết định bắt đầu việc giải quyết vụ án theo thủ tục hình sự. |
| Không khởi tố vụ án hình sự | Quyết định không bắt đầu vụ án hình sự sau khi xem xét thông tin. |
| Tạm đình chỉ giải quyết | Quyết định tạm dừng việc giải quyết nguồn tin, không đồng nghĩa với không khởi tố. |
Cơ quan có thẩm quyền phải thông báo kết quả cho người đã phản ánh theo khoản 4 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Bạn nên lưu thông tin về lần gửi, nội dung và tài liệu đã nộp để thuận tiện theo dõi.
Khi nào không tố giác tội phạm có thể bị xử lý?
Người biết rõ tội phạm nhưng không báo chỉ bị xem xét theo Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015 khi thuộc phạm vi tội phạm và điều kiện mà điều luật quy định. Không thể chỉ dựa vào nhận xét “biết mà im lặng” để kết luận có tội.
Việc đối chiếu cần tập trung vào:
- Người bị xem xét có thực sự biết rõ tội phạm hay chỉ nghe kể, suy đoán.
- Nếu hành vi đang được chuẩn bị, tội phạm có thuộc khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự 2015 hay không.
- Nếu hành vi đang hoặc đã được thực hiện, tội phạm có thuộc Điều 389 Bộ luật Hình sự 2015 hay không.
- Người không báo có thuộc trường hợp tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015 hay không.
Không nên suy rộng rằng mọi hành vi có dấu hiệu vi phạm đều làm phát sinh trách nhiệm vì không báo tin. Bạn có thể đọc thêm bài về trách nhiệm liên quan đến che giấu và không báo tội phạm để nhận diện những nội dung cần kiểm tra riêng.
Mức phạt đối với tội không tố giác tội phạm là gì?
Người phạm tội có thể bị cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015. Cải tạo không giam giữ là hình phạt không buộc người bị kết án phải chấp hành trong cơ sở giam giữ.

Quan hệ gia đình cũng cần được xem xét. Theo khoản 2 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo khoản 1 Điều này, trừ những trường hợp được điều luật loại trừ.
Ngoại lệ trên không áp dụng khi không báo các tội thuộc Chương XIII Bộ luật Hình sự 2015 hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015. Việc xác định chính xác nhóm tội phải được kiểm tra, không thể chỉ dựa vào quan hệ thân thích.
Người đã can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt theo khoản 2 Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015. Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp luật cho phép; miễn hình phạt là không buộc chịu hình phạt. Đây là khả năng được xem xét, không phải kết quả tự động.
Luật sư làm gì khi bào chữa tội che giấu, không tố giác tội phạm?
Luật sư bào chữa, tức tham gia bảo vệ người bị buộc tội trước cáo buộc hình sự, cần kiểm tra hành vi thực tế và căn cứ áp dụng pháp luật. Với cáo buộc không báo tội phạm, trọng tâm là yếu tố biết rõ, phạm vi tội phạm và các trường hợp ngoại lệ.
Khi đã bị khởi tố, nghĩa là đã có quyết định tố tụng chính thức đối với cáo buộc, bạn nên cùng luật sư rà soát:
- Nội dung cáo buộc và tài liệu thể hiện việc biết rõ tội phạm.
- Sự phù hợp với phạm vi dẫn chiếu tại Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015.
- Quan hệ gia đình hoặc tư cách người bào chữa theo Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015.
- Hành động can ngăn, hạn chế tác hại theo khoản 2 Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015.
Không nên đồng nhất che giấu với không báo tin. Khi bào chữa tội che giấu, cần kiểm tra quy định trực tiếp về hành vi đó, không lấy mức phạt tại Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015 để áp dụng thay.
Câu hỏi thường gặp
Các câu trả lời sau giúp phân biệt việc rút thông tin, phản ánh lại và cố ý báo sai sự thật. Mỗi tình huống vẫn cần đối chiếu nội dung cụ thể.
Rút đơn có làm chấm dứt hoàn toàn việc xử lý vụ việc không?
Không có căn cứ từ các quy định nêu trên để kết luận rằng cứ rút đơn là việc xử lý tự động chấm dứt. Điều 145 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết và các quyết định có thể ban hành, nhưng không quy định rút đơn là căn cứ tự động kết thúc.
Có được tố giác lại sau khi đã rút đơn không?
Các điều luật được phân tích không đặt ra thủ tục riêng cho việc phản ánh lại sau khi rút đơn. Nếu tiếp tục gửi thông tin, bạn nên trình bày rõ diễn biến, lý do thay đổi và tài liệu bổ sung; không nên mặc định lần gửi lại sẽ được xử lý theo một kết quả nhất định.
Cố ý báo sai sự thật có bị xử lý không?
Người cố ý phản ánh sai sự thật có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy tính chất, mức độ theo khoản 5 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Bạn có thể tham khảo những sai sót khi phản ánh hành vi làm nhục người khác để chú ý hơn đến tính chính xác của thông tin.
Người bào chữa có luôn được miễn trách nhiệm khi không báo tin không?
Không. Khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015 quy định ngoại lệ đối với các tội thuộc Chương XIII hoặc tội khác đặc biệt nghiêm trọng do chính người được bào chữa thực hiện, khi người bào chữa biết rõ trong quá trình bào chữa.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 390, Điều 19, Điều 14, Điều 389
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 172/VBHN-LQ-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 144, Điều 147, Điều 145, Điều 146
Luật Sư 11 hỗ trợ thực hiện thủ tục và bảo vệ quyền lợi
Luật Sư 11 hỗ trợ rà soát nội dung phản ánh, sắp xếp tài liệu, xác định cơ quan tiếp nhận và tư vấn khi có cáo buộc không tố giác tội phạm. Bạn có thể liên hệ để trao đổi tình tiết cụ thể, làm rõ căn cứ pháp lý và lựa chọn hướng xử lý phù hợp.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 28/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




