Giết người không thành: Mức phạt và trường hợp cần phân biệt

Giết người không thành: Mức phạt và trường hợp cần phân biệt

Nghe bài viết · 12 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo

Biên tập: Luật Sư 11 · Cập nhật 24/10/2026 · Đọc 13 phút

Giết người không thành vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015. Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì nguyên nhân ngoài ý muốn. Hình phạt được xác định theo Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015.

Giết người không thành có phải là tội phạm không?

Người cố ý thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng nhưng không thực hiện được đến cùng vì nguyên nhân ngoài ý muốn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015. Trách nhiệm hình sự được hiểu ở đây là việc người phạm tội phải chịu sự xử lý về tội phạm mình thực hiện.

Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

“Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.”

Vì vậy, nạn nhân còn sống không đồng nghĩa với việc người thực hiện hành vi không phạm tội. Cần xem xét ý định, hành vi đã thực hiện và nguyên nhân khiến người đó không thực hiện được đến cùng.

“Cố ý” trong cách diễn đạt này thể hiện việc người thực hiện có chủ đích thực hiện tội phạm, chứ không phải sự việc xảy ra ngoài ý muốn của họ. Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào hậu quả bị thương để kết luận người thực hiện có ý định tước đoạt tính mạng.

Ví dụ minh họa (giả định): Một người cố ý thực hiện hành vi nhằm làm người khác chết, nhưng bị ngăn chặn nên không thực hiện được đến cùng. Nếu các tình tiết đáp ứng Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015, việc nạn nhân sống sót không loại trừ trách nhiệm về hành vi phạm tội chưa đạt.

Những yếu tố nào cần làm rõ khi nạn nhân không tử vong?

Việc xác định giết người chưa đạt cần làm rõ ý định thực hiện tội phạm, mức độ thực hiện và nguyên nhân khiến hành vi không được thực hiện đến cùng. Các nội dung này gắn với Điều 15 và khoản 1 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015.

Bốn yếu tố cần làm rõ khi xác định giết người chưa đạt kèm điều luật tương ứng
Bốn nhóm thông tin cần làm rõ khi nạn nhân không tử vong

Khi trình bày sự việc để được tư vấn, người liên quan nên tập trung vào các nhóm thông tin sau:

  1. Làm rõ người thực hiện định làm gì và đã thực hiện hành vi nào, để đối chiếu với yêu cầu về hành vi cố ý tại Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015.
  2. Làm rõ điều gì khiến hành vi dừng lại, đặc biệt là nguyên nhân có nằm ngoài ý muốn của người thực hiện hay không, theo Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015.
  3. Làm rõ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và mức độ thực hiện ý định phạm tội, theo khoản 1 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015.
  4. Làm rõ các tình tiết liên quan đến trường hợp phạm tội tương ứng tại Điều 123, Điều 125 hoặc Điều 126 Bộ luật Hình sự 2015.

Các thông tin cần được xem xét trong mối liên hệ với nhau. Một lời nói, một thương tích hoặc riêng việc nạn nhân được cứu sống đều chưa thể thay thế việc đánh giá đầy đủ hành vi.

Đặc biệt, không nên mặc nhiên coi mọi trường hợp gây thương tích là hành vi nhằm tước đoạt tính mạng. Các điều luật nêu trên không đặt ra một tỷ lệ thương tích để tự động xác định trường hợp phạm tội chưa đạt.

Giết người không thành bị xử phạt thế nào?

Mức phạt phụ thuộc vào điều luật áp dụng, tính chất hành vi và mức độ thực hiện ý định phạm tội. Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015 quy định giới hạn hình phạt riêng đối với trường hợp phạm tội chưa đạt.

So sánh khung hình phạt khoản 1 và khoản 2 Điều 123 cùng giới hạn khi phạm tội chưa đạt
Giới hạn hình phạt tù đối với hành vi giết người chưa đạt

Khung hình phạt là khoảng hình phạt mà điều luật quy định cho một trường hợp phạm tội. Với hành vi thuộc Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, cần xác định khung áp dụng trước khi xem xét giới hạn dành cho hành vi chưa đạt.

Trường hợp thuộc khung có hình phạt chung thân hoặc tử hình

Nếu thuộc khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, mức phạt được quy định là tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Khi hành vi thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và điều luật áp dụng có hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, hình phạt tù không quá 20 năm theo khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015.

Như vậy, không thể lấy mức cao nhất dành cho tội phạm đã thực hiện đến cùng để áp dụng nguyên trạng cho hành vi chưa đạt.

Trường hợp thuộc khung tù có thời hạn

Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định, theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.

Nếu không thuộc các trường hợp tại khoản 1, hành vi thuộc khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Đối với hành vi chưa đạt thuộc trường hợp này, mức phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định, tương ứng mức tối đa là 11 năm 03 tháng khi tính từ mức cao nhất của khung, theo khoản 3 Điều 57 và khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

Đây là giới hạn tối đa, không phải mức án mặc định. Khoản 1 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015 còn yêu cầu xem xét mức độ nguy hiểm, mức độ thực hiện ý định và những tình tiết khiến tội phạm không được thực hiện đến cùng.

Bạn có thể đối chiếu thêm bài phân tích khung hình phạt đối với hành vi tước đoạt tính mạng để hiểu cách phân chia các trường hợp.

Chuẩn bị phạm tội khác gì với phạm tội chưa đạt?

Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015 quy định cách quyết định hình phạt riêng. Không nên dùng chung cách tính hình phạt cho các trường hợp này.

Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015 xác định phạm tội chưa đạt bằng việc người phạm tội đã cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì nguyên nhân ngoài ý muốn. Đối với chuẩn bị phạm tội, các điều luật đang được đối chiếu quy định hình phạt nhưng không đưa ra định nghĩa cụ thể.

Trường hợpĐặc điểm để đối chiếuCách xác định hình phạt
Chuẩn bị phạm tộiCần xác định đúng giai đoạn chuẩn bịTrong khung dành riêng cho hành vi chuẩn bị
Phạm tội chưa đạtĐã cố ý thực hiện nhưng không đến cùng vì nguyên nhân ngoài ý muốnTheo tội tương ứng và giới hạn dành cho hành vi chưa đạt
Phạm tội đã thực hiện đến cùngKhông thuộc tình trạng chưa đạt vừa nêuĐối chiếu khung của tội tương ứng

Người chuẩn bị giết người bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 3 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015. Hình phạt đối với hành vi chuẩn bị được quyết định trong phạm vi khung quy định tại điều luật cụ thể, theo khoản 2 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015.

Do đó, cần xác định đúng giai đoạn thực hiện trước khi trao đổi về mức án có thể áp dụng.

Trạng thái tinh thần và hoàn cảnh xảy ra hành vi có làm thay đổi cách xử lý không?

Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và việc vượt quá giới hạn khi chống trả hoặc bắt giữ người phạm tội được quy định tại các điều luật riêng. Không thể mặc nhiên áp dụng Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 cho mọi trường hợp có hành vi tước đoạt tính mạng.

Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong Điều 125 Bộ luật Hình sự 2015 gắn với hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người thực hiện hoặc người thân thích của họ. Trạng thái này không đồng nghĩa với việc mắc bệnh tâm thần.

Người phạm tội trong hoàn cảnh đó có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo khoản 1 Điều 125 Bộ luật Hình sự 2015.

Đối với việc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, Điều 126 Bộ luật Hình sự 2015 điều chỉnh trường hợp hành vi chống trả hoặc bắt giữ đã vượt giới hạn được chấp nhận.

Mức phạt trong trường hợp cơ bản là cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm theo khoản 1 Điều 126 Bộ luật Hình sự 2015. Cải tạo không giam giữ được hiểu ở đây là hình phạt không buộc người bị kết án chấp hành tại cơ sở giam giữ như hình phạt tù.

Nếu cần tìm hiểu thêm cấu trúc Điều 123, bạn có thể đọc bài về tội danh và các mức hình phạt tương ứng.

Người đang mắc bệnh tâm thần giết người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Không thể kết luận một người có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không chỉ từ thông tin họ đang mắc bệnh tâm thần. Các Điều 15, 57, 123, 125 và 126 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định điều kiện xử lý riêng đối với người mắc bệnh này.

Điều cần tránh là đồng nhất tên bệnh với kết luận pháp lý. Những quy định về mức phạt nêu trong bài không đủ để xác định khả năng nhận thức, điều khiển hành vi hoặc cách xử lý đối với một người mắc bệnh tâm thần cụ thể.

Tương tự, không thể khẳng định người đó được miễn chịu trách nhiệm, phải chấp hành hình phạt tù hay phải chữa bệnh chỉ bằng cách viện dẫn Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

Để tư vấn trường hợp thực tế, cần làm rõ tình trạng bệnh tại thời điểm xảy ra hành vi và đối chiếu quy định chuyên biệt trước khi đưa ra kết luận.

Người từng bị bệnh tâm thần giết người có bị ở tù không?

Tiền sử bệnh tâm thần không đủ để khẳng định người thực hiện hành vi chắc chắn phải ở tù hoặc chắc chắn không phải ở tù. Các điều luật đang phân tích không quy định cách xác định trách nhiệm riêng dựa trên tiền sử bệnh.

Mẹ và con gái ngồi bên bàn gỗ trong nhà, sắp xếp giấy tờ khám chữa bệnh cũ
Gia đình sắp xếp lại hồ sơ điều trị bệnh trước đây

Gia đình nên phân biệt thông tin từng điều trị bệnh với tình trạng của người thực hiện tại thời điểm xảy ra sự việc. Việc tự kết luận từ một chẩn đoán cũ có thể khiến cách trình bày vụ việc thiếu chính xác.

Nếu có căn cứ áp dụng hình phạt tù, cách xác định mức phạt vẫn phải được đối chiếu với điều luật về hành vi tương ứng và quy định về giai đoạn thực hiện. Tuy nhiên, không được bỏ qua việc làm rõ tình trạng bệnh trước khi kết luận trách nhiệm của người đó.

Gia đình người mắc bệnh tâm thần có phải bồi thường cho nạn nhân?

Chưa thể xác định nghĩa vụ bồi thường của gia đình từ các điều luật về tội phạm và hình phạt đang phân tích. Bồi thường là việc bù đắp thiệt hại cho người bị thiệt hại; đây là câu hỏi khác với việc xác định hình phạt.

Người đàn ông trao đổi với nữ luật sư bên bàn gỗ, trên bàn có hóa đơn và hồ sơ
Xem xét các hóa đơn, chứng từ liên quan đến thiệt hại

Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định rằng cứ có người thân thực hiện hành vi gây chết người thì cả gia đình phải bồi thường. Điều luật này cũng không phải căn cứ để kết luận gia đình hoàn toàn không có nghĩa vụ.

Muốn trả lời cần xác định người có nghĩa vụ, thiệt hại và căn cứ pháp lý về bồi thường. Không nên lấy riêng kết luận về bệnh hoặc hình phạt để suy ra trách nhiệm của toàn bộ gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Các câu trả lời sau giải thích thêm một số điểm dễ nhầm khi xem xét hành vi chưa đạt.

Nạn nhân được cứu sống có làm mất trách nhiệm của người thực hiện không?

Không tự động làm mất trách nhiệm. Nếu hành vi đáp ứng dấu hiệu phạm tội chưa đạt, người thực hiện vẫn phải chịu trách nhiệm theo Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015.

Thời gian bị giam trước đó có được trừ vào thời hạn tù không?

Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù; cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015. Bạn có thể đọc thêm về việc bị giam giữ khi bắt đầu giải quyết vụ việc hình sự.

Có thể dùng riêng tỷ lệ thương tích để xác định tội danh không?

Các Điều 15, 57 và 123 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định một tỷ lệ thương tích làm căn cứ tự động xác định tội danh. Cần xem xét cả ý định và diễn biến thực hiện hành vi.

Căn cứ pháp lý

Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn trách nhiệm và hình phạt

Luật Sư 11 hỗ trợ rà soát diễn biến sự việc, phân biệt giai đoạn thực hiện và xác định những nội dung cần làm rõ trước khi đánh giá trách nhiệm. Bạn có thể liên hệ để được tư vấn trên cơ sở tình tiết, hồ sơ thực tế, đặc biệt khi có thông tin về bệnh tâm thần hoặc nạn nhân không tử vong.

Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 24/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button Zalo