Quy trình tố giác và khởi tố tội cố ý gây thương tích

Quy trình tố giác tội Cố ý gây thương tích

Khởi tố tội cố ý gây thương tích là thủ tục pháp lý nhằm xử lý người có hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác khi đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. Vậy điều kiện khởi tố là gì, hồ sơ cần chuẩn bị ra sao và quy trình thực hiện như thế nào? Luật sư 11 sẽ giải đáp chi tiết trong bài viết dưới đây.

Có thể gửi đơn tố giác khi phát hiện hành vi có dấu hiệu cố ý gây thương tích
Có thể gửi đơn tố giác khi phát hiện hành vi có dấu hiệu cố ý gây thương tích

Khi nào có thể làm đơn khởi tố tội cố ý gây thương tích?

Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), khởi tố tội cố ý gây thương tích được xem xét khi hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thuộc các trường hợp luật định. Cụ thể:

Trường hợp thương tật từ 11% trở lên

Người thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp này, người bị hại hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có thể gửi đơn tố giác hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét khởi tố tội cố ý gây thương tích theo quy định của pháp luật.

Trường hợp dưới 11% nhưng vẫn bị khởi tố

Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, hành vi gây thương tích dưới 11% vẫn có thể bị khởi tố tội cố ý gây thương tích nếu thuộc một trong các trường hợp như:

  • Sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm, vật liệu nổ hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  • Dùng axit hoặc hóa chất nguy hiểm;
  • Phạm tội có tính chất côn đồ;
  • Gây thương tích đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
  • Gây thương tích đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
  • Thuê gây thương tích hoặc nhận thuê gây thương tích;
  • Thuộc các trường hợp khác được Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định.
Hành vi gây thương tích từ 11% trở lên hoặc thuộc trường hợp luật định có thể bị khởi tố
Hành vi gây thương tích từ 11% trở lên hoặc thuộc trường hợp luật định có thể bị khởi tố

Xem thêm: Cấu thành và dấu hiệu pháp lý tội cố ý gây thương tích theo Luật Hình Sự Việt Nam.

Ai có quyền tố giác và yêu cầu khởi tố tội cố ý gây thương tích?

Theo Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, mọi cá nhân đều có quyền tố giác về hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, khi phát hiện hành vi có dấu hiệu cố ý gây thương tích, cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có thể gửi tố giác để yêu cầu xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.

Những chủ thể có thể thực hiện việc tố giác gồm:

  • Người bị hại trong vụ việc bị gây thương tích;
  • Người đại diện của người bị hại trong trường hợp pháp luật quy định;
  • Người chứng kiến sự việc hoặc người biết về hành vi phạm tội;
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm.

Đối với trường hợp khởi tố tội cố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, việc khởi tố vụ án phải tuân theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại, trừ trường hợp người bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Đối với các trường hợp thuộc khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự, việc khởi tố vụ án được thực hiện theo quy định chung và không phụ thuộc vào việc bị hại có yêu cầu hay không nếu có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội.

Cá nhân phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm đều có quyền tố giác
Cá nhân phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm đều có quyền tố giác

Quy trình tố giác và khởi tố tội cố ý gây thương tích

Việc khởi tố tội cố ý gây thương tích được thực hiện theo trình tự, thủ tục giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cụ thể:

Bước 1. Nộp đơn tố giác hoặc tin báo về tội phạm

Người bị hại hoặc người phát hiện vụ việc có thể gửi:

  • Đơn tố giác tội phạm;
  • Đơn yêu cầu khởi tố (đối với trường hợp thuộc Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự);
  • Hoặc trình báo trực tiếp.

Đơn có thể gửi đến:

  • Cơ quan Cảnh sát điều tra;
  • Viện kiểm sát;
  • Công an cấp xã, phường, thị trấn;
  • Các cơ quan khác có thẩm quyền tiếp nhận tố giác theo Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bước 2. Tiếp nhận và kiểm tra nguồn tin về tội phạm

Sau khi tiếp nhận, cơ quan có thẩm quyền sẽ lập biên bản, ghi vào sổ tiếp nhận và tiến hành xác minh theo quy định tại Điều 146 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong giai đoạn này, cơ quan điều tra có thể:

  • Lấy lời khai của người bị hại và người làm chứng;
  • Trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể;
  • Thu thập camera, hình ảnh, vật chứng;
  • Xác minh nhân thân người bị tố giác;
  • Tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu khác theo quy định của pháp luật.

Bước 3. Ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án

Sau khi xác minh nguồn tin, nếu có căn cứ xác định hành vi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự theo Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ngược lại, nếu không đủ căn cứ hoặc thuộc các trường hợp quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho người tố giác biết theo quy định.

Cơ quan có thẩm quyền sẽ xác minh và quyết định khởi tố vụ án hay không
Cơ quan có thẩm quyền sẽ xác minh và quyết định khởi tố vụ án hay không

Hồ sơ, chứng cứ cần chuẩn bị khi tố giác hành vi cố ý gây thương tích

Để cơ quan có thẩm quyền có căn cứ xem xét khởi tố tội cố ý gây thương tích, người tố giác nên chuẩn bị đầy đủ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc. Theo Điều 144 và Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH năm 2026), mọi thông tin, tài liệu phản ánh dấu hiệu tội phạm đều có giá trị để cơ quan điều tra tiếp nhận, xác minh.

Hồ sơ nên chuẩn bị gồm:

  • Đơn tố giác tội phạm hoặc đơn yêu cầu khởi tố (nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự).
  • Giấy chứng nhận thương tích, hồ sơ bệnh án hoặc kết luận giám định pháp y (nếu đã có).
  • Hình ảnh, video, camera ghi lại diễn biến vụ việc.
  • Hung khí, vật chứng hoặc tài liệu liên quan (nếu có).
  • Thông tin, lời khai của người làm chứng.
  • Tài liệu chứng minh thiệt hại về sức khỏe, tài sản hoặc chi phí điều trị.

Trong trường hợp chưa có kết luận giám định thương tích, người bị hại vẫn có thể nộp đơn tố giác. Khi cần thiết, cơ quan điều tra sẽ trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Theo Luật sư Nguyễn Thành Huân, việc cung cấp đầy đủ chứng cứ ngay từ đầu sẽ giúp rút ngắn thời gian xác minh nguồn tin về tội phạm và tạo cơ sở thuận lợi cho quá trình khởi tố tội cố ý gây thương tích nếu có đủ căn cứ pháp luật.

Chứng cứ giúp làm rõ hành vi và căn cứ khởi tố
Chứng cứ giúp làm rõ hành vi và căn cứ khởi tố

Tham khảo: Tội cố ý gây thương tích bị hại rút đơn có bị khởi tố không?.

Người bị hại rút đơn thì vụ án có còn bị khởi tố không?

Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chỉ các vụ án thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự mới được khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Đối với các trường hợp này, nếu người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp tự nguyện rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án có thể bị đình chỉ.

Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định việc rút đơn do bị ép buộc, cưỡng ép hoặc đe dọa, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có quyền tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định.

Đối với các trường hợp phạm tội thuộc khoản 2 đến khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự, vụ án được khởi tố theo quy định chung. Khi đó, dù người bị hại bãi nại hoặc rút đơn thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục điều tra, truy tố và xét xử nếu có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội.

Đây là điểm nhiều người thường nhầm lẫn khi tìm hiểu về khởi tố tội cố ý gây thương tích. Việc bồi thường hoặc hòa giải chỉ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, chứ không đương nhiên làm chấm dứt trách nhiệm hình sự.

Rút yêu cầu khởi tố chỉ áp dụng với một số trường hợp theo quy định pháp luật
Rút yêu cầu khởi tố chỉ áp dụng với một số trường hợp theo quy định pháp luật

Câu hỏi thường gặp

Không có giấy giám định thương tật có khởi tố được không?

Có. Người bị hại vẫn có thể nộp đơn tố giác nếu chưa có kết luận giám định thương tích. Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, cơ quan điều tra có quyền trưng cầu giám định theo quy định của Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể và làm căn cứ xem xét khởi tố tội cố ý gây thương tích.

Đánh nhau cả hai bên đều bị thương thì xử lý thế nào?

Nếu cả hai bên đều có hành vi cố ý gây thương tích, cơ quan điều tra sẽ xem xét hành vi của từng người, mức độ lỗi, tỷ lệ thương tích và các chứng cứ liên quan để xác định trách nhiệm hình sự của từng bên. Trường hợp có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, mỗi bên đều có thể bị xử lý theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Bao lâu có quyết định khởi tố?

Theo khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là 20 ngày kể từ ngày tiếp nhận. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp cần xác minh, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng; trường hợp đặc biệt có thể được Viện kiểm sát gia hạn một lần, tổng thời gian tối đa không quá 04 tháng theo quy định của pháp luật.

Bãi nại có làm đình chỉ vụ án không?

Không phải mọi trường hợp đều được đình chỉ. Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, chỉ những vụ án thuộc diện khởi tố theo yêu cầu của bị hại mới có thể đình chỉ khi người bị hại tự nguyện rút yêu cầu khởi tố. Đối với các trường hợp còn lại, việc bãi nại không làm chấm dứt quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử.

Có thể tố giác sau nhiều tháng kể từ khi xảy ra vụ việc không?

Có. Pháp luật không quy định người bị hại phải tố giác ngay sau khi xảy ra vụ việc. Tuy nhiên, việc tố giác sớm sẽ giúp cơ quan điều tra thu thập chứng cứ, xác minh hiện trường và trưng cầu giám định thuận lợi hơn. Trường hợp hành vi vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 27 Bộ luật Hình sự, cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể tiếp nhận và giải quyết tố giác theo quy định.

Khởi tố tội cố ý gây thương tích không chỉ căn cứ vào tỷ lệ thương tật mà còn phụ thuộc vào tính chất hành vi, tình tiết vụ án và các chứng cứ liên quan. Do đó, người bị hại cần chủ động tố giác, cung cấp tài liệu cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Luật sư 11 hỗ trợ tư vấn, giải đáp các vấn đề liên quan đến tố giác, khởi tố và bảo vệ quyền lợi trong các vụ án cố ý gây thương tích theo quy định pháp luật.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button