Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người bị xử lý thế nào?

Trong các vụ việc đánh nhau, xô xát, hậu quả chết người không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với tội giết người. Việc xác định người thực hiện hành vi phạm tội gì cần dựa trên mục đích, diễn biến sự việc và hậu quả thực tế xảy ra. Vậy trường hợp cố ý gây thương tích dẫn đến chết người bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật?

Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người bị xử lý thế nào?
Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người bị xử lý thế nào?

Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người bị xử lý thế nào?

Người có hành vi cố ý tấn công xâm phạm đến sức khỏe người khác nhưng vô ý làm nạn nhân tử vong sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Mức hình phạt cụ thể đối với hành vi tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết sẽ dao động thấp nhất là từ 07 năm tù giam cho đến mức án cao nhất là tù chung thân. Khung hình phạt nặng hay nhẹ phụ thuộc hoàn toàn vào số lượng người chết, tính chất hung khí sử dụng cũng như các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ định khung cấu thành tội phạm được cơ quan tố tụng xác minh trong hồ sơ vụ án.

Người gây thương tích dẫn đến chết người có thể bị phạt tù từ 07 năm đến chung thân
Người gây thương tích dẫn đến chết người có thể bị phạt tù từ 07 năm đến chung thân

Xem thêm: Tội cố ý gây thương tích: Mức phạt tù, tiền theo khung chi tiết và quy định pháp luật.

Thế nào là tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người?

Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người là trường hợp một người có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác với lỗi cố ý, nhưng không nhằm mục đích giết nạn nhân. Hậu quả chết người xảy ra do thương tích gây ra và nằm ngoài ý muốn của người phạm tội.

Đây là trường hợp có sự khác biệt quan trọng với tội giết người, bởi yếu tố quyết định nằm ở ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi.

Dấu hiệu pháp lý của tội phạm

Để định danh chính xác một vụ án thuộc nhóm tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, các cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải chứng minh được đầy đủ 4 yếu tố cấu thành cốt lõi sau:

  • Có hành vi cố ý gây thương tích: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi đấm, đá, dùng hung khí tác động vật lý của mình sẽ gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân nhưng vẫn cố tình thực hiện.
  • Không có mục đích tước đoạt tính mạng: Trong tư tưởng chủ quan, người phạm tội hoàn toàn không có ý định tước đoạt mạng sống của đối phương, không mong muốn nạn nhân phải tử vong.
  • Hậu quả chết người xảy ra ngoài ý muốn: Cái chết của nạn nhân nằm ngoài ý thức hệ và kế hoạch chủ quan ban đầu của người thực hiện hành vi phạm tội.
  • Có quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Vết thương do hành vi tấn công trực tiếp gây ra (hoặc biến chứng từ vết thương đó) phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của nạn nhân.

Khi nào bị truy cứu theo khoản 4 Điều 134 BLHS?

Theo khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người phạm tội cố ý gây thương tích có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm nếu thuộc một trong các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng sau:

  • Làm chết người;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác làm biến dạng vùng mặt với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên;
  • Gây thương tích cho từ 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên;
  • Gây thương tích cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên và thuộc một trong các tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 134;
  • Gây thương tích cho từ 02 người trở lên, mỗi người có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% và thuộc một trong các tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 1 Điều 134.

Mức hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người

Căn cứ Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tùy vào hậu quả và tính chất của hành vi phạm tội, người cố ý gây thương tích dẫn đến chết người có thể bị áp dụng các khung hình phạt khác nhau.

Khung 4: Phạt tù từ 07 năm đến 14 năm

Người phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

  • Làm chết người;
  • Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên và thuộc một trong các tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 134;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên, mỗi người có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% và thuộc một trong các tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 1 Điều 134.

Khung 5: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

Mức phạt có thể tăng lên từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân nếu hành vi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

  • Làm chết 02 người trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên và thuộc một trong các tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 134.

Đọc thêm: Cấu thành và dấu hiệu pháp lý tội cố ý gây thương tích theo Luật Hình Sự Việt Nam.

Phân biệt tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người và tội giết người

Phân biệt hai tội danh này chủ yếu dựa vào ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi.


Tiêu chí phân biệt


Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người


Tội giết người (Điều 123)

Ý thức chủ quan

Cố ý đối với hành vi gây thương tích nhưng vô ý đối với hậu quả chết người.

Cố ý đối với cả hành vi tấn công lẫn hậu quả tước đoạt tính mạng nạn nhân.

Vị trí tác động

Tấn công vào các vùng ít nguy hiểm, không thuộc vùng trọng yếu (tay, chân, đùi).

Tấn công dồn dập vào các vùng hiểm yếu trên cơ thể (đầu, ngực, tim, cổ).

Hung khí sử dụng

Thường dùng tay chân, vật dụng thông thường hoặc hung khí thô sơ để dằn mặt.

Sử dụng hung khí có tính sát thương cực cao (súng, dao nhọn, mã tấu).

Hành vi sau gây án

Hoảng sợ dừng lại, tìm cách băng bó vết thương hoặc đưa nạn nhân đi cấp cứu.

Quyết liệt thực hiện tội phạm đến cùng, bỏ mặc hậu quả hoặc ngăn cản người khác cứu chữa.

Ví dụ, một người dùng tay đánh người khác trong lúc mâu thuẫn, mục đích chỉ gây thương tích nhưng nạn nhân tử vong do chấn thương nghiêm trọng thì có thể bị xem xét về tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người.

Người cố ý gây thương tích dẫn đến chết người thường tìm cách cứu giúp nạn nhân
Người cố ý gây thương tích dẫn đến chết người thường tìm cách cứu giúp nạn nhân

Ngược lại, nếu người phạm tội dùng dao đâm vào vùng trọng yếu như ngực, cổ với mục đích làm nạn nhân chết thì có thể bị truy cứu về tội giết người.

Người phạm tội giết người sử dụng hung khí nhằm tước đoạt tính mạng nạn nhân
Người phạm tội giết người sử dụng hung khí nhằm tước đoạt tính mạng nạn nhân

Người phạm tội có được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không?

Người phạm tội vẫn có thể được xem xét giảm nhẹ hình phạt nếu có các tình tiết được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ

Theo Điều 51 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án lượng hình khi đáp ứng các tình tiết như: chủ động tự nguyện bồi thường thiệt hại tổn thất cho gia đình nạn nhân, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội tự thú hoặc phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Người phạm tội có thể được xem xét giảm nhẹ nếu thành khẩn, khắc phục hậu quả
Người phạm tội có thể được xem xét giảm nhẹ nếu thành khẩn, khắc phục hậu quả

Các tình tiết tăng nặng

Ngược lại, theo Điều 52 Bộ luật Hình sự, mức phạt sẽ bị áp dụng nghiêm khắc hơn nếu rơi vào các tình tiết tăng nặng như: cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, có tính chất côn đồ, phạm tội đối với người không có khả năng tự vệ (trẻ em, phụ nữ mang thai, người già yếu) hoặc tái phạm nguy hiểm.

Ngoài trách nhiệm hình sự, người phạm tội có phải bồi thường không?

Có, bắt buộc phải thực hiện bồi thường dân sự. Song song với việc phải chấp hành hình phạt tù, người phạm tội hoặc gia đình của họ phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ các khoản thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Các khoản chi phí bồi thường bắt buộc bao gồm: chi phí cứu chữa, điều trị y tế cho nạn nhân trước khi chết; chi phí hợp lý cho việc mai táng (tang lễ); tiền cấp dưỡng cho những người mà nạn nhân có nghĩa vụ nuôi dưỡng (con chưa thành niên, cha mẹ già yếu); và khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nạn nhân.

Tham khảo: Xử lý hành vi cố ý gây thương tích có tổ chức như thế nào?.

Câu hỏi thường gặp

Dưới đây là những vấn đề thường gặp liên quan đến tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người.

Đánh nhau làm chết người có phải tội giết người không?

Không phải lúc nào cũng là tội giết người. Nếu việc đánh nhau chỉ nhằm mục đích giải quyết mâu thuẫn bằng tay chân, không dùng hung khí nguy hiểm, không tấn công vùng trọng yếu và việc nạn nhân chết là do sơ sẩy té ngã hoặc biến chứng sức khỏe thì sẽ bị xử lý về tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người.

Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người có được hưởng án treo không?

Hầu như không được hưởng án treo. Án treo chỉ được xem xét áp dụng đối với người bị phạt tù không quá 03 năm. Trong khi đó, khung hình phạt thấp nhất đối với hành vi làm chết 01 người theo Điều 134 đã là từ 07 năm tù giam, do đó người phạm tội bắt buộc phải chấp hành hình phạt tù biệt giam.

Gia đình nạn nhân bãi nại thì có được miễn trách nhiệm hình sự không?

Không được miễn trách nhiệm hình sự. Tội danh này thuộc nhóm tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nên cơ quan điều tra bắt buộc phải khởi tố, xử lý theo thẩm quyền tố tụng. Lá đơn bãi nại từ gia đình nạn nhân chỉ được Tòa án xem xét như một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi xét xử lượng hình.

Có bị truy cứu nếu nạn nhân chết sau thời gian điều trị không?

Vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời điểm nạn nhân tử vong (chết ngay tại hiện trường hay chết sau nhiều ngày điều trị tại bệnh viện) không làm thay đổi bản chất tội danh. Chỉ cần kết luận giám định pháp y chứng minh được mối quan hệ nhân quả rằng nạn nhân chết do các vết thương từ hành vi đánh đập gây ra thì người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Thời điểm nạn nhân tử vong không làm thay đổi trách nhiệm hình sự
Thời điểm nạn nhân tử vong không làm thay đổi trách nhiệm hình sự

Nếu bạn đang cần tư vấn chuyên sâu về các tình tiết giảm nhẹ hình phạt, quy trình bào chữa, hay phương án thỏa thuận bồi thường thiệt hại dân sự trong vụ án cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, hãy liên hệ ngay với Luật sư 11 qua Hotline: 0979800000 để nhận được sự hỗ trợ pháp lý từ đội ngũ luật sư dày dặn kinh nghiệm.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button