Công an được tạm giữ người trong bao lâu?

Minh họa người bị tạm giữ và cán bộ công an

Tạm giữ người là biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong một số trường hợp nhất định nhằm phục vụ hoạt động điều tra, xác minh hành vi có dấu hiệu tội phạm. Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ công an được tạm giữ người trong bao lâu, trường hợp nào được gia hạn thời hạn tạm giữ và giới hạn tối đa theo quy định của pháp luật là bao nhiêu ngày. Luật Sư 11 sẽ giải thích rõ trong bài viết sau đây.

Minh họa người bị tạm giữ và cán bộ công an
Quy định thời gian tạm giữ người của công an theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Công an được tạm giữ người trong bao lâu?

Một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm là thời hạn công an được tạm giữ người. Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định thời hạn khác nhau tùy việc áp dụng thủ tục tố tụng hình sự hay thủ tục hành chính.

1. Theo thủ tục tố tụng hình sự (xử lý tội phạm)

Theo Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn tạm giữ được quy định như sau:

  • Thời hạn tạm giữ ban đầu không quá 03 ngày, tính từ khi Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải họ về trụ sở; đối với người phạm tội tự thú, đầu thú, tính từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ.
  • Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn lần thứ nhất không quá 03 ngày.
  • Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn lần thứ hai không quá 03 ngày. Mọi lần gia hạn đều phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn.

Tổng thời hạn tạm giữ theo Điều 118 tối đa là 09 ngày khi có đủ điều kiện và cả hai lần gia hạn đều được phê chuẩn. Không phải trường hợp nào cũng được giữ đủ 09 ngày:

  • Nếu có đủ căn cứ khởi tố bị can, cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng. Việc áp dụng tạm giam hoặc biện pháp ngăn chặn khác phải có căn cứ và điều kiện riêng, không tự động phát sinh khi hết thời hạn tạm giữ.
  • Ngay trong thời gian tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay theo khoản 3 Điều 118; không chờ hết 09 ngày.

Trên thực tế, nhiều người thường nhầm lẫn giữa tạm giữ và tạm giam vì hai biện pháp này có tên gọi gần nhau nhưng bản chất pháp lý hoàn toàn khác biệt. Theo Luật sư Nguyễn Thành Huân, tạm giữ chỉ là biện pháp ngăn chặn ban đầu để xác minh dấu hiệu tội phạm, còn tạm giam là biện pháp nghiêm khắc hơn được áp dụng khi đã có căn cứ tố tụng rõ ràng.

Minh họa cảnh sát khống chế một người
Tạm giữ hình sự tối đa 09 ngày khi đủ điều kiện và được phê chuẩn cả hai lần gia hạn

2. Theo thủ tục hành chính (vi phạm trật tự, an toàn xã hội)

Ngoài tố tụng hình sự, công an còn có quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính trong một số trường hợp cần ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hoặc bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ khoản 3 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính:

  • Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không quá 12 giờ.
  • Trường hợp cần thiết có thể kéo dài nhưng không quá 24 giờ.
  • Đối với người vi phạm ở khu vực biên giới, vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh hoặc hải đảo, thời hạn được tính từ khi đưa người vi phạm đến nơi tạm giữ. Riêng tạm giữ để xác định tình trạng nghiện ma túy theo điểm đ khoản 1 Điều 122 có thể kéo dài nhưng không quá 05 ngày kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.

Hết thời hạn này, cơ quan công an phải trả tự do cho người bị giữ nếu không có căn cứ áp dụng biện pháp khác theo quy định pháp luật. Ngoài ra, nếu trong quá trình làm việc với cơ quan chức năng, người dân nhận được giấy mời của công an, việc nắm rõ quyền và nghĩa vụ khi bị công an mời lên làm việc cũng là điều cần thiết để chủ động bảo vệ bản thân.

Minh họa cán bộ công an ghi biên bản làm việc
Tạm giữ hành chính: thông thường tối đa 12 giờ, cần thiết tối đa 24 giờ; trường hợp xác định tình trạng nghiện ma túy có giới hạn riêng

Các trường hợp công an được tạm giữ, bắt người theo quy định pháp luật

Ngoài vấn đề công an được tạm giữ người trong bao lâu, cần phân biệt tạm giữ với các trường hợp bắt người. Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định đối tượng có thể bị tạm giữ; khoản 2 Điều 109 liệt kê các trường hợp bắt người. Có thể xem thêm căn cứ để tạm giữ hình sự để đối chiếu đúng biện pháp được áp dụng.

Các trường hợp bắt người gồm:

1. Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

Theo Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn được áp dụng khi có căn cứ cho rằng cần kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, việc bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Đối tượng áp dụng biện pháp này là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp khi thuộc một trong các căn cứ sau:

  • Có đủ căn cứ xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
  • Người cùng thực hiện tội phạm, người bị hại hoặc người có mặt tại hiện trường xác nhận chính người đó đã thực hiện hành vi phạm tội và cần ngăn chặn ngay việc bỏ trốn;
  • Trên người, phương tiện, chỗ ở hoặc nơi làm việc của người bị nghi thực hiện tội phạm có dấu vết liên quan đến tội phạm và cần ngăn chặn ngay việc tiêu hủy chứng cứ.

Về thẩm quyền, lệnh giữ người và lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được thực hiện bởi những người có thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2025 như Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án ít nghiêm trọng, tội nghiêm trong xảy ra trên địa bàn cấp xã; người chỉ huy một số đơn vị quân đội, biên phòng, cảnh sát biển và các chủ thể khác được pháp luật giao thẩm quyền.

Về thủ tục, trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay nếu không có căn cứ tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn. Lệnh bắt phải được gửi cho Viện kiểm sát để xem xét phê chuẩn theo quy định pháp luật. Trường hợp Viện kiểm sát không phê chuẩn thì người bị giữ phải được trả tự do ngay.

Minh họa tình huống đe dọa, gây rối tại quán cà phê
Căn cứ bắt người bị giữ khẩn cấp khi có dấu hiệu tội phạm nghiêm trọng

2. Bắt người phạm tội quả tang

Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bắt người phạm tội quả tang là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội bị phát hiện ngay trong lúc đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi hành vi phạm tội vừa kết thúc nhưng chưa kịp bỏ trốn hoặc đang bị truy đuổi.

Có thể hiểu phạm tội quả tang thuộc một trong các tình huống sau:

  • Người đang trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và bị phát hiện tại chỗ khi hành vi chưa kết thúc;
  • Người vừa thực hiện xong hành vi phạm tội nhưng bị phát hiện ngay, khi chưa kịp tẩu thoát hoặc che giấu hành vi;
  • Người sau khi thực hiện tội phạm đã bỏ chạy và bị truy đuổi liên tục, không có sự gián đoạn về mặt thời gian giữa hành vi phạm tội và việc bị bắt giữ.

Đối với trường hợp này, pháp luật cho phép bất kỳ người nào cũng có quyền bắt giữ người phạm tội quả tang, đồng thời được quyền tước vũ khí, hung khí hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hiểm để đảm bảo an toàn.

Người bắt giữ có trách nhiệm đưa ngay người bị bắt đến cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Trường hợp Công an cấp xã,hoặc Đồn Công an tiếp nhận người phạm tội quả tang thì phải lập biên bản, thu giữ và bảo quản tang vật, lấy lời khai ban đầu và bàn giao hoặc báo ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.

Minh họa phát hiện người đang thực hiện hành vi phạm tội
Người dân có quyền bắt người phạm tội quả tang và bàn giao cho cơ quan chức năng

3. Bắt người đang bị truy nã

Theo Điều 112 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bắt người đang bị truy nã là biện pháp được áp dụng đối với người đã có quyết định truy nã của cơ quan có thẩm quyền do bỏ trốn hoặc không xác định được nơi cư trú, nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án.

Quyết định truy nã được ban hành đối với các đối tượng như: bị can, bị cáo bỏ trốn; người đang chấp hành án phạt tù, người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án nhưng bỏ trốn; người bị kết án tử hình hoặc trục xuất bỏ trốn; hoặc người bị kết án phạt tù nhưng không chấp hành án và mất dấu vết. Việc ra quyết định truy nã phải dựa trên căn cứ xác định rõ đối tượng đã bỏ trốn, không xác định được vị trí, đồng thời đã áp dụng các biện pháp xác minh nhưng không có kết quả, và đảm bảo xác minh chính xác thông tin nhận dạng của người bị truy nã.

Đối với người đang có quyết định truy nã, pháp luật quy định bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người đó đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.

Trường hợp lực lượng Công an cấp xã, Đồn Công an hoặc lực lượng chức năng phát hiện, tiếp nhận người bị truy nã thì phải lập biên bản, thu giữ và bảo quản tài liệu, đồ vật liên quan, đồng thời thông báo hoặc bàn giao ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền để xử lý theo quy định pháp luật.

Minh họa thông báo người bị truy nã
Quy định pháp luật về bắt người đang bị truy nã theo Điều 112 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

4. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, được áp dụng nhằm cách ly người bị buộc tội khỏi xã hội trong một thời hạn nhất định, qua đó hạn chế nguy cơ bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc gây cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

Theo Điều 60 và Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự; bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Thẩm quyền và thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam được quy định tại Điều 113. Lệnh bắt của người có thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.

Khi thi hành lệnh hoặc quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam, người thi hành phải đọc đầy đủ lệnh, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, lập biên bản theo đúng trình tự và giao quyết định cho người bị bắt. Đồng thời, việc bắt giữ phải có người chứng kiến theo quy định; trường hợp bắt người tại nơi cư trú, làm việc hoặc học tập thì cần có sự tham gia chứng kiến của đại diện chính quyền hoặc cơ quan, tổ chức liên quan.

Lưu ý: Không được tiến hành bắt người vào ban đêm (từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau), trừ các trường hợp đặc biệt như bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Minh họa bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam theo Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự

5. Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ

Việc bắt, tạm giam trong hoạt động dẫn độ phải căn cứ Luật Dẫn độ số 100/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành. Yêu cầu dẫn độ do Bộ Công an lập hoặc tiếp nhận trước ngày 01/07/2026 tiếp tục được giải quyết theo quy định chuyển tiếp tại Điều 45 Luật Dẫn độ. Dưới đây là các nội dung cần phân biệt:

1. Bắt người bị xem xét yêu cầu dẫn độ

Trong giai đoạn xem xét yêu cầu dẫn độ từ Việt Nam ra nước ngoài, việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ là biện pháp ngăn chặn được áp dụng theo Điều 502, Điều 503 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 32 Luật Dẫn độ 2025.

Biện pháp này nhằm bảo đảm hoạt động xem xét yêu cầu dẫn độ được thực hiện khách quan, tránh trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ bỏ trốn hoặc gây cản trở quá trình giải quyết vụ việc.

Theo khoản 2 Điều 502 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn này cần có quyết định của Tòa án về việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc quyết định dẫn độ đã có hiệu lực, đồng thời có căn cứ cho rằng người bị yêu cầu dẫn độ bỏ trốn hoặc gây khó khăn, cản trở việc xem xét hoặc thi hành quyết định dẫn độ.

Người đàn ông cúi đầu với hai tay bị còng
Quy định bắt người bị xem xét yêu cầu dẫn độ

2. Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ

Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam hoặc thi hành quyết định dẫn độ được thực hiện theo Điều 113 và Điều 503 Bộ luật Tố tụng hình sự, cùng Điều 32 Luật Dẫn độ 2025.

Khoản 1 Điều 3 Luật Dẫn độ 2025 xác định dẫn độ là việc Việt Nam chuyển giao người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự cho nước ngoài, hoặc nhận chuyển giao từ nước ngoài, để nước tiếp nhận truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người đó.

Biện pháp tạm giam trong trường hợp này được áp dụng khi:

  • Tòa án đã có quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ đối với người đó; hoặc quyết định dẫn độ đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật;
  • Có căn cứ xác định người bị yêu cầu dẫn độ có nguy cơ bỏ trốn hoặc cản trở việc thi hành yêu cầu dẫn độ.

Theo khoản 3 Điều 502 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bắt, tạm giam thuộc Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Áp dụng biện pháp tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để đảm bảo thi hành quyết định

Người đàn ông cúi đầu với hai tay bị còng
Áp dụng biện pháp tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để đảm bảo thi hành quyết định

3. Bắt người bị dẫn độ

Bắt người bị dẫn độ là biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với người đã có quyết định dẫn độ có hiệu lực pháp luật, nhằm bảo đảm việc thi hành quyết định dẫn độ được thực hiện đúng trình tự, đúng thẩm quyền. Biện pháp này được áp dụng khi có căn cứ xác định người bị dẫn độ có hành vi bỏ trốn, trốn tránh hoặc gây khó khăn, cản trở việc thi hành quyết định dẫn độ.

Việc bắt người để thi hành quyết định dẫn độ phải tuân thủ Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, Luật Dẫn độ 2025 và điều ước quốc tế có liên quan; đối với hồ sơ chuyển tiếp, áp dụng Điều 45 Luật Dẫn độ.

Các điều kiện tại khoản 2 Điều 502 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với việc áp dụng biện pháp ngăn chặn khi xem xét hoặc thi hành quyết định dẫn độ gồm:

  • Tòa án đã có quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc quyết định dẫn độ đã có hiệu lực pháp luật;
  • Có căn cứ xác định người bị yêu cầu dẫn độ có nguy cơ bỏ trốn hoặc gây khó khăn, cản trở việc xem xét hoặc thi hành quyết định dẫn độ.

Riêng việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ được thực hiện theo Điều 33 Luật Dẫn độ 2025. Thời hạn giữ người, tạm giam trong hoạt động dẫn độ có quy định riêng, không áp dụng máy móc mốc tạm giữ 03 ngày và các lần gia hạn của Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hiểu rõ quy định về công an được tạm giữ người trong bao lâu không chỉ giúp cá nhân nắm được giới hạn pháp luật cho phép, mà còn là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền tự do thân thể trong quá trình làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng.

Trong trường hợp người thân bị tạm giữ hoặc bị khởi tố hình sự, gia đình cần nắm rõ các bước cần thực hiện để kịp thời bảo vệ quyền lợi cho người liên quan, đặc biệt là quyền thăm gặp người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định mới nhất.

Khi phát sinh các vấn đề liên quan đến tạm giữ, tạm giam hoặc các biện pháp ngăn chặn, việc tham vấn luật sư hình sự có kinh nghiệm sẽ giúp cá nhân và gia đình có hướng xử lý phù hợp, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luật Sư 11 luôn sẵn sàng đồng hành và hỗ trợ.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button Zalo