Tội sản xuất hàng giả: Mức phạt, tịch thu và bồi thường

Tội sản xuất hàng giả: Mức phạt, tịch thu và bồi thường

Nghe bài viết · 13 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo

Biên tập: Luật Sư 11 · Cập nhật 01/11/2026 · Đọc 14 phút

Người phạm tội sản xuất hàng giả có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 4 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015. Tuy nhiên, quy định này không đồng nghĩa người mua tự động được nhận tiền bồi thường. Muốn đánh giá đúng trách nhiệm, cần phân biệt loại hàng giả, hậu quả và chủ thể vi phạm.

Tội sản xuất hàng giả được xử lý theo điều luật nào?

Tội sản xuất hàng giả phải được xác định theo loại hàng hóa, không thể áp dụng cùng một điều luật cho mọi sản phẩm. Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 chỉ áp dụng khi hành vi không thuộc các trường hợp tại Điều 193, Điều 194 và Điều 195 Bộ luật Hình sự 2015.

Tên đầy đủ của tội danh tại Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 là “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả”. Vì vậy, việc xem xét trách nhiệm không chỉ đặt ra đối với người trực tiếp làm ra hàng hóa, mà còn đối với hành vi buôn bán thuộc điều luật.

Có thể phân biệt các nhóm hàng như sau:

Nhóm hàng hóaQuy định cần đối chiếuĐiểm cần phân biệt
Hàng giả không thuộc các nhóm chuyên biệtĐiều luật về sản xuất, buôn bán hàng giả nói chungXem xét trị giá hàng tương đương, khoản lợi và hậu quả
Lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm giảĐiều luật riêng về nhóm thực phẩmKhông áp dụng ngưỡng trị giá của nhóm hàng giả nói chung một cách máy móc
Thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh giảĐiều luật riêng về thuốc giảCó hệ thống hình phạt riêng
Thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi giảĐiều luật riêng về nhóm hàng phục vụ sản xuất nông nghiệpPhải đối chiếu đúng loại hàng và điều kiện xử lý

Các nhóm chuyên biệt lần lượt được quy định tại Điều 193, Điều 194 và Điều 195 Bộ luật Hình sự 2015. Các điều luật này không trình bày tiêu chí kỹ thuật để kết luận một sản phẩm là hàng giả; vì vậy, không nên chỉ dựa vào giá bán rẻ hoặc nghi ngờ của người mua để khẳng định tội danh.

Khi nào hành vi sản xuất, bán hàng giả bị xử lý hình sự?

Đối với tội sản xuất hàng giả thuộc Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, hành vi phải thuộc ít nhất một trường hợp mà điều luật quy định. Trị giá hàng hóa không phải căn cứ duy nhất; khoản lợi thu được và thiệt hại cũng có thể là căn cứ xử lý.

Theo khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, các trường hợp gồm:

  • Hàng giả tương đương với số lượng hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng theo điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Hàng có trị giá tương đương dưới 30 triệu đồng nhưng người vi phạm có lần bị xử phạt hoặc kết án đáp ứng đầy đủ điều kiện tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Hành vi gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% theo điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Người thực hiện thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Hành vi gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng theo điểm d khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.

Thu lợi bất chính được hiểu là khoản lợi có được từ hành vi trái pháp luật. Cần phân biệt khoản lợi này với trị giá hàng thật tương đương và thiệt hại về tài sản, vì điều luật quy định riêng từng căn cứ.

Ví dụ minh họa (giả định): Một cơ sở sản xuất hàng giả không thuộc các nhóm hàng chuyên biệt, có lượng hàng tương đương hàng thật trị giá 80 triệu đồng, có thể thuộc trường hợp tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015. Không cần mặc nhiên giả định cơ sở đã bán hết hàng hoặc đã gây thiệt hại sức khỏe mới xem xét căn cứ này.

Tội sản xuất hàng giả bị phạt tiền hay phạt tù?

Người phạm tội sản xuất hàng giả theo Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù ở khung cơ bản; các khung cao hơn quy định hình phạt tù. Khung hình phạt là khoảng mức phạt mà điều luật quy định cho từng nhóm trường hợp phạm tội.

Ở khung cơ bản, người phạm tội bị phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 2 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.

Khung tiếp theo quy định phạt tù từ 05 năm đến 10 năm theo khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015. Chẳng hạn:

  • Hàng giả có trị giá hàng thật tương đương từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng theo điểm đ khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Khoản thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng theo điểm e khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng theo điểm k khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.

Trường hợp làm chết người cũng thuộc khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015. Việc xác định hậu quả sức khỏe cần được phân biệt với cách đánh giá hành vi trong bài về cố ý gây thương tích với hung khí nguy hiểm, không thể suy ra cùng một tội danh chỉ vì có thương tích.

Khung cao nhất của điều luật là phạt tù từ 07 năm đến 15 năm theo khoản 3 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015. Các căn cứ bao gồm hàng giả có trị giá hàng thật tương đương từ 500 triệu đồng trở lên, thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên hoặc thiệt hại tài sản từ 1,5 tỷ đồng trở lên, tương ứng điểm a, điểm b và điểm đ khoản 3 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.

Mức cao nhất này không áp dụng chung cho mọi tội sản xuất hàng giả. Với thực phẩm giả và thuốc giả, các trường hợp thuộc khoản 4 Điều 193 và khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự 2015 còn có thể bị phạt tù chung thân.

Người phạm tội có bị tịch thu toàn bộ tài sản không?

Người phạm tội sản xuất hàng giả có thể bị tịch thu toàn bộ tài sản, nhưng đây không phải hậu quả tự động trong mọi vụ án. Tịch thu tài sản ở đây là hình phạt về tài sản, có phạm vi một phần hoặc toàn bộ tài sản của người phạm tội.

Khoản 4 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 quy định nguyên văn:

“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Cụm từ “còn có thể” cho thấy điều luật không bắt buộc tịch thu toàn bộ tài sản trong mọi trường hợp. Đồng thời, điều luật nêu cả khả năng tịch thu một phần, nên không thể chỉ căn cứ vào tên tội danh để kết luận phạm vi tài sản sẽ bị tịch thu.

Đối với hàng giả là thực phẩm, thuốc và nhóm hàng phục vụ sản xuất nông nghiệp, khả năng tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản cũng được ghi nhận tại khoản 5 Điều 193, khoản 5 Điều 194 và khoản 5 Điều 195 Bộ luật Hình sự 2015.

Các khoản này không nêu cách xác định phần tài sản cụ thể bị tịch thu trong từng vụ án. Vì vậy, khi tư vấn về tội sản xuất hàng giả, cần tránh khẳng định tài sản của gia đình hoặc mọi tài sản có liên quan đều đương nhiên bị xử lý.

Người mua hàng giả có được bồi thường không?

Không thể chỉ dựa vào các điều luật về hình phạt để kết luận người mua được bồi thường bao nhiêu hoặc nhận tiền theo thủ tục nào. Bồi thường là việc bù đắp thiệt hại; nội dung này cần được phân biệt với tiền phạt và tịch thu tài sản.

Điều 192, Điều 193, Điều 194 và Điều 195 Bộ luật Hình sự 2015 có sử dụng thiệt hại về tài sản, sức khỏe hoặc tính mạng làm căn cứ xác định hình phạt. Tuy nhiên, các điều luật này không quy định cụ thể cơ chế bồi thường cho người mua.

Cơ chế bồi thường được hiểu là cách xác định, yêu cầu và thực hiện việc bù đắp thiệt hại. Những nội dung chưa thể kết luận chỉ từ các điều luật trên gồm:

  • Người nào phải hoàn trả tiền mua hàng hoặc bồi thường trong từng quan hệ mua bán.
  • Khoản thiệt hại nào được chấp nhận và cách tính từng khoản.
  • Hồ sơ, trình tự, thời hạn yêu cầu và cách giải quyết.
  • Khoản tiền nào được sử dụng để thực hiện việc bồi thường.

Với tội sản xuất hàng giả, tịch thu tài sản không đồng nghĩa với việc chuyển tài sản đó cho người mua. Các điều luật được viện dẫn không quy định sự chuyển giao như vậy.

Người mua nên lưu giữ hóa đơn, thông tin giao dịch, hình ảnh sản phẩm và tài liệu phản ánh thiệt hại để phục vụ việc tư vấn cụ thể. Đây là gợi ý chuẩn bị thông tin, không phải danh mục hồ sơ bắt buộc được quy định tại các điều luật trên.

Bạn cũng có thể đọc bài về trả tiền khắc phục và quyền lợi của nạn nhân trong vụ lừa đảo để phân biệt câu hỏi khắc phục thiệt hại với câu hỏi xử lý hành vi phạm tội; không nên áp dụng kết luận của tội danh khác sang việc mua phải hàng giả.

Tổ chức phạm tội có bị xử lý giống cá nhân không?

Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 quy định riêng hình phạt đối với pháp nhân thương mại, không áp dụng nguyên xi mức phạt dành cho cá nhân. Pháp nhân thương mại trong nội dung xử phạt này là chủ thể tổ chức, được điều luật phân biệt với cá nhân phạm tội.

Đối với tội sản xuất hàng giả thuộc khung cơ bản, pháp nhân thương mại bị phạt tiền từ 2 tỷ đồng đến 6 tỷ đồng theo điểm a khoản 5 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.

Nếu thuộc các trường hợp được liệt kê tại điểm b khoản 5 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, mức phạt là từ 6 tỷ đồng đến 12 tỷ đồng. Trường hợp thuộc khoản 3 có thể bị phạt từ 12 tỷ đồng đến 18 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm theo điểm c khoản 5 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015.

Đình chỉ hoạt động là việc buộc chủ thể ngừng hoạt động theo hình phạt áp dụng. Ngoài ra, điểm đ khoản 5 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định khả năng phạt tiền, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực hoặc cấm huy động vốn.

Không nên lấy quy định tịch thu tài sản dành cho người phạm tội tại khoản 4 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 để khẳng định pháp nhân thương mại cũng bị áp dụng hình phạt đó.

Cần chuẩn bị gì để luật sư xem xét hướng bào chữa?

Người liên quan đến tội sản xuất hàng giả nên chuẩn bị thông tin về loại hàng, hành vi thực hiện, trị giá và hậu quả. Bào chữa là việc đưa ra lý lẽ, thông tin để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.

Việc chuẩn bị có thể thực hiện theo thứ tự:

  1. Xác định sản phẩm thuộc nhóm hàng nào và tập hợp tài liệu thể hiện đặc điểm hàng hóa.
  2. Mô tả riêng hành vi sản xuất, bán hàng, giao nhận và vai trò thực tế của từng người.
  3. Tách tài liệu về trị giá hàng tương đương, tiền thu được và thiệt hại, tránh gộp thành một con số.
  4. Tập hợp giấy tờ về những lần xử lý trước đây nếu có, cùng tài liệu về tài sản và việc khắc phục đã thực hiện.

Các bước này là cách sắp xếp thông tin để tư vấn, không thay thế việc đánh giá điều kiện xử lý theo điều luật. Nếu đồng thời lo ngại về việc bị giữ trong quá trình giải quyết vụ án, bạn có thể đọc riêng bài có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố không để tìm hiểu câu hỏi tố tụng liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Các câu trả lời dưới đây giúp phân biệt một số tình huống dễ nhầm khi xem xét tội sản xuất hàng giả.

Chưa bán được hàng thì có thể bị xử lý không?

Có thể, vì Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 quy định cả hành vi sản xuất. Không thể chỉ dựa vào việc chưa bán được hàng để kết luận người thực hiện không phạm tội; vẫn phải đối chiếu các điều kiện tương ứng.

Hàng có trị giá thấp thì chắc chắn không phạm tội?

Không. Trường hợp trị giá tương đương dưới 30 triệu đồng vẫn có thể thuộc điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 nếu đáp ứng điều kiện về lần xử phạt hoặc kết án trước đó; điều luật còn có các căn cứ khác về khoản lợi và hậu quả.

Hàng cấm có phải luôn là hàng giả không?

Không nên đồng nhất hai cách gọi. Điều 190 Bộ luật Hình sự 2015 quy định tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, còn Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả; phải xác định đúng đặc điểm hàng hóa và hành vi.

Hoàn tiền cho khách có chắc chắn tránh được hình phạt không?

Không thể kết luận như vậy. Các điều luật về sản xuất, buôn bán hàng giả nêu trong bài không quy định rằng việc hoàn tiền tự động loại trừ trách nhiệm của người thực hiện.

Căn cứ pháp lý

Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn và bào chữa

Luật Sư 11 hỗ trợ xem xét thông tin về tội sản xuất hàng giả, phân biệt căn cứ xử lý, phạm vi hình phạt và các câu hỏi liên quan đến thiệt hại của người mua. Bạn có thể liên hệ để được tư vấn trên cơ sở tình tiết và giấy tờ cụ thể, thay vì suy đoán kết quả chỉ từ tên tội danh.

Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 01/11/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button Zalo