Nghe bài viết · 15 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 30/10/2026 · Đọc 17 phút
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ có mức phạt tù cao nhất từ 10 năm đến 15 năm nếu gây thiệt hại tài sản từ 1.000.000.000 đồng trở lên, theo khoản 3 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015. Việc xác định tội danh còn phải xem xét động cơ, hành vi làm trái và thiệt hại.
Mức phạt tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ là bao nhiêu?
Người phạm tội có thể bị cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, tùy trường hợp quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015. Ngoài hình phạt này, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định và có thể bị phạt tiền theo khoản 4 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015.

Tên đầy đủ trong điều luật là “Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Công vụ có thể hiểu là công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn mà người thực hiện được giao.
Trường hợp áp dụng mức phạt cơ bản
Khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015 quy định trực tiếp:
“Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.” (Khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015).
Cải tạo không giam giữ là hình phạt không buộc người bị kết án phải chấp hành án trong trại giam. Hình phạt là biện pháp xử lý đối với người phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015.
Khi xem xét tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ, cần phân biệt thiệt hại tài sản với thiệt hại khác. Điều luật không giới hạn hậu quả ở việc mất tiền hoặc tài sản, mà còn đề cập lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Trường hợp áp dụng mức phạt nặng hơn
Khung hình phạt là khoảng hoặc loại hình phạt mà điều luật quy định cho một nhóm trường hợp phạm tội.
- Người phạm tội có tổ chức hoặc phạm tội từ 02 lần trở lên bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm theo điểm a, điểm b khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015.
- Người gây thiệt hại tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm theo điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015.
- Người gây thiệt hại tài sản từ 1.000.000.000 đồng trở lên bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm theo khoản 3 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015.
Không nên chỉ căn cứ số tiền thiệt hại để dự đoán mức xử lý. Trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc lặp lại hành vi cũng cần được đối chiếu với quy định tương ứng.
Cấm đảm nhiệm chức vụ và phạt tiền
Cấm đảm nhiệm chức vụ là hình phạt ngăn người phạm tội giữ chức vụ nhất định trong thời gian được xác định.
Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng theo khoản 4 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015.
Cách dùng từ trong điều luật cần được đọc chính xác: cấm đảm nhiệm chức vụ là hậu quả được quy định bắt buộc; phạt tiền được quy định theo hướng “có thể”. Không nên hiểu người phạm tội chỉ cần nộp tiền là thay thế được hình phạt tù.
Những dấu hiệu nào cần xem xét để xác định tội danh?
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ phải được xem xét đồng thời về việc sử dụng chức vụ, động cơ, hành vi làm trái và hậu quả theo khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015. Một sai sót trong công việc chưa đủ để tự kết luận người thực hiện phạm tội này.

Có thể rà soát các dấu hiệu theo trình tự sau:
- Xác định chức vụ, quyền hạn mà người thực hiện đã sử dụng trong công việc. Cần làm rõ người đó có nhiệm vụ gì, được quyết định hoặc thực hiện nội dung nào và đã dùng quyền hạn ấy ra sao.
- Xác định hành vi làm trái công vụ. Cần đối chiếu công việc phải thực hiện với việc người đó thực tế đã làm, thay vì chỉ dựa vào kết quả không đạt yêu cầu.
- Xác định động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Vụ lợi được hiểu là hướng đến lợi ích cho mình; động cơ cá nhân khác là lý do cá nhân thúc đẩy việc làm trái.
- Xác định thiệt hại và mối liên hệ với hành vi. Mối liên hệ ở đây là việc thiệt hại phát sinh từ hành vi làm trái công vụ đang được xem xét.
Các dấu hiệu trên bám vào khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015. Điều luật dùng cụm từ “vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác”, nên việc chưa chứng minh người thực hiện nhận tiền không đồng nghĩa chắc chắn không có tội.
Ngược lại, khi cơ quan hoặc tổ chức bị thiệt hại, không thể mặc nhiên quy trách nhiệm cho tất cả người tham gia xử lý công việc. Với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ, cần làm rõ hành vi và động cơ của từng người.
Người có chức vụ, quyền hạn không được làm những việc gì?
Trong phạm vi các điều luật đang xét, người có chức vụ, quyền hạn không được lợi dụng vị trí của mình để làm trái công vụ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, dùng ảnh hưởng để trục lợi hoặc thực hiện hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật. Mỗi nhóm hành vi có dấu hiệu riêng, không mặc nhiên cùng thuộc Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015.

Không lợi dụng quyền hạn để làm trái công vụ
Khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015 yêu cầu xem xét hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn gắn với công việc được giao, động cơ cá nhân và hậu quả gây ra.
Vì vậy, khi đánh giá tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ, cần xác định cụ thể người thực hiện đã dùng quyền hạn nào để làm trái. Chỉ nêu chung rằng người đó “có chức vụ” hoặc “đã ký giấy tờ” chưa phản ánh đầy đủ các dấu hiệu của điều luật.
Không dùng ảnh hưởng để đòi hoặc nhận lợi ích
Trục lợi có thể hiểu là tìm kiếm lợi ích thông qua việc lợi dụng vị trí hoặc ảnh hưởng của mình.
Khoản 1 Điều 358 Bộ luật Hình sự 2015 quy định hành vi trực tiếp hoặc qua trung gian đòi, nhận hoặc sẽ nhận lợi ích để dùng ảnh hưởng thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn xử lý công việc theo những cách được điều luật mô tả.
Đối với lợi ích vật chất, mức từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thuộc trường hợp tại điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Hình sự 2015.
Lợi ích phi vật chất, tức lợi ích không thể hiện trực tiếp bằng tiền hoặc tài sản, cũng được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Hình sự 2015. Không nên chỉ tìm chứng cứ giao nhận tiền mà bỏ qua dạng lợi ích này.
Không lợi dụng chức vụ để bắt, giữ, giam trái pháp luật
Khoản 1 Điều 377 Bộ luật Hình sự 2015 liệt kê những hành vi cụ thể sau:
- Không ra quyết định trả tự do hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo luật.
- Ra lệnh, quyết định bắt, giữ, giam không có căn cứ theo luật.
- Thực hiện bắt, giữ, giam không có lệnh, quyết định theo luật hoặc khi lệnh, quyết định chưa có hiệu lực thi hành.
- Không xử lý việc gia hạn, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp giữ, giam khi hết thời hạn, dẫn đến giữ, giam quá hạn.
Nếu đang lo lắng về việc bị giữ, giam, người đọc có thể tham khảo thêm bài có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố không. Việc đối chiếu hành vi cụ thể vẫn phải dựa trên điều luật tương ứng.
Phân biệt hành vi làm trái công vụ với những tội danh gần nhau thế nào?
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ tập trung vào hành vi làm trái công vụ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác và gây thiệt hại. Hành vi dùng ảnh hưởng để nhận lợi ích hoặc lợi dụng chức vụ để bắt, giữ, giam trái pháp luật phải được đối chiếu với các quy định riêng.

Bảng dưới đây giúp nhận diện hướng xem xét, không thay thế việc đánh giá đầy đủ vụ việc:
| Nhóm hành vi | Dấu hiệu cần tập trung | Điểm phân biệt |
|---|---|---|
| Lợi dụng chức vụ làm trái công vụ | Động cơ, nhiệm vụ bị làm trái và thiệt hại | Người thực hiện dùng chức vụ, quyền hạn để làm trái công vụ |
| Dùng ảnh hưởng để trục lợi | Việc đòi, nhận hoặc sẽ nhận lợi ích | Người thực hiện dùng ảnh hưởng tác động đến người có chức vụ, quyền hạn |
| Lợi dụng chức vụ để bắt, giữ, giam trái pháp luật | Lệnh, quyết định, căn cứ và thời hạn giữ, giam | Hành vi thuộc nhóm được mô tả riêng về việc tước tự do |
| Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật | Hành vi bắt, giữ, giam và trường hợp loại trừ | Phải kiểm tra phạm vi áp dụng của quy định trước khi kết luận |
Các nhóm hành vi tương ứng được quy định tại Điều 356, Điều 358, Điều 377 và Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015.
Riêng khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015 loại trừ trường hợp thuộc Điều 153 và Điều 377 Bộ luật Hình sự 2015. Đồng thời, điểm b khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015 vẫn quy định trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
Vì vậy, không thể chỉ thấy người thực hiện có chức vụ rồi kết luận áp dụng tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ. Cần đối chiếu đúng hành vi được mô tả ở từng điều luật.
Tình huống nào có thể đặt ra việc xử lý hình sự?
Việc xử lý hình sự cần dựa trên các dấu hiệu của tội phạm, không chỉ dựa vào chức danh hoặc việc có thiệt hại. Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý mà người phạm tội phải chịu đối với hành vi phạm tội của mình.
Các tình huống sau chỉ nhằm minh họa cách đối chiếu điều luật, không phải bản án hay vụ việc có thật.
Làm trái nhiệm vụ vì lợi ích cá nhân
Ví dụ minh họa (giả định): Người có quyền phê duyệt một công việc đã lợi dụng quyền hạn, vì lợi ích cá nhân mà phê duyệt trái công vụ, gây thiệt hại tài sản 80.000.000 đồng, thuộc mức từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự; mức thiệt hại này thuộc khoảng được nêu tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015.
Nếu xác định được đầy đủ các dấu hiệu tương ứng, hành vi có cơ sở để xem xét theo khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015. Không thể chỉ dựa vào chữ ký phê duyệt mà bỏ qua việc chứng minh động cơ và thiệt hại.
Thiệt hại không thể hiện bằng tài sản
Ví dụ minh họa (giả định): Người có chức vụ vì động cơ cá nhân đã lợi dụng quyền hạn làm trái nhiệm vụ, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của một tổ chức nhưng không xác định thiệt hại bằng tiền.
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ không chỉ đặt ra khi có thiệt hại tài sản. Khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015 còn đề cập thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Tuy nhiên, cần chỉ rõ lợi ích nào bị thiệt hại và thiệt hại có liên quan thế nào đến hành vi. Không nên thay việc xác định hậu quả bằng nhận xét chung rằng hành vi “gây ảnh hưởng xấu”.
Đòi tiền để tác động người khác
Ví dụ minh họa (giả định): Người có chức vụ đòi 50.000.000 đồng để dùng ảnh hưởng thúc đẩy một người có chức vụ khác làm việc không được phép làm, thuộc mức từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Hình sự; giá trị khoản tiền thuộc phạm vi điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Hình sự 2015.
Tình huống cần được đối chiếu với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi, thay vì mặc nhiên áp dụng Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015.
Điểm cần xác minh là người đó dùng quyền hạn của mình làm trái công vụ hay đòi lợi ích để dùng ảnh hưởng tác động người khác.
Người liên quan nên chuẩn bị gì khi cần tư vấn?
Người liên quan nên tập hợp tài liệu làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn, diễn biến công việc, động cơ và thiệt hại. Việc chuẩn bị nên hướng vào các dấu hiệu của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ, thay vì chỉ tập trung giải thích số tiền bị cho là thất thoát.

Có thể sắp xếp tài liệu theo trình tự:
- Tập hợp quyết định phân công, mô tả nhiệm vụ và tài liệu thể hiện phạm vi quyền hạn.
- Sắp xếp giấy tờ, trao đổi và diễn biến xử lý công việc theo thứ tự thời gian.
- Đánh dấu hành vi bị cho là làm trái, đồng thời ghi nhận ý kiến giải thích và tài liệu liên quan.
- Tập hợp tài liệu về thiệt hại, cách xác định thiệt hại và quan hệ với hành vi.
- Chuẩn bị thông tin về lợi ích cá nhân bị cho là động cơ và vai trò của từng người.
Nếu có việc hoàn trả hoặc khắc phục thiệt hại, người liên quan nên lưu giữ chứng từ để luật sư xem xét. Không nên tự kết luận rằng việc hoàn trả đương nhiên làm mất đi dấu hiệu của hành vi đã xảy ra.
Người đọc có thể tham khảo bài trả tiền khắc phục có thoát tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không nên chuyển kết luận của tội danh khác sang trường hợp đang xét.
Để tìm hiểu thêm cách trình bày diễn biến xử lý một vụ án, có thể đọc bài quy trình điều tra và truy tố tội đánh bạc. Nội dung về tội danh khác không thay thế căn cứ xác định tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ.
Câu hỏi thường gặp
Các câu trả lời dưới đây làm rõ thêm phạm vi áp dụng của Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015.
Chưa nhận được lợi ích thì có loại trừ trách nhiệm không?
Khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định việc đã nhận được lợi ích là điều kiện bắt buộc. Điều luật yêu cầu xem xét động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác cùng hành vi làm trái và thiệt hại.
Người chưa thành niên có thể bị xử lý về tội này không?
Người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp có quy định khác, theo khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015.
Điều 356 không nằm trong danh sách các tội áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015.
Có thể dùng mức phạt của vụ án khác để dự đoán kết quả không?
Không nên lấy mức phạt trong vụ án khác làm kết quả mặc định. Việc xem xét tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ phải đối chiếu động cơ, hành vi, thiệt hại và trường hợp phạm tội với Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015.
Chỉ gây thiệt hại nhỏ về tài sản thì chắc chắn không phạm tội không?
Không thể kết luận chỉ từ giá trị tài sản. Khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định trường hợp gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 356, Điều 12, Điều 358, Điều 157, Điều 377, Điều 153
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn về hành vi lợi dụng chức vụ
Luật Sư 11 hỗ trợ rà soát dấu hiệu của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ, phân biệt với các tội danh liên quan và xem xét tài liệu về nhiệm vụ, động cơ, thiệt hại. Bạn có thể liên hệ qua luatsu11.vn để được tư vấn phù hợp với tình tiết cụ thể của vụ việc.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 30/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




