Nghe bài viết · 19 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Luật sư Nguyễn Thành Huân
Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 17/10/2026 · Đọc 17 phút
Người sử dụng trái phép chất ma túy bị phạt tù khi thuộc các trường hợp tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015. Không thể chỉ dựa vào việc đã sử dụng để kết luận mức phạt; cần xác định tình trạng cai nghiện, quản lý sau cai và hành vi liên quan của người đó.
Thế nào là sử dụng trái phép chất ma túy?
Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 quy định tội sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không trực tiếp định nghĩa hành vi sử dụng. Vì vậy, cần phân biệt hành vi sử dụng với việc cất giữ, vận chuyển, mua bán hoặc tổ chức cho người khác sử dụng.
Sự phân biệt có ý nghĩa thực tế: cùng liên quan đến một chất nhưng hành vi khác nhau có thể được xem xét theo những điều luật khác nhau. Người đã sử dụng không đương nhiên được xem là chỉ có hành vi sử dụng; ngược lại, cũng không thể suy từ việc có mặt tại địa điểm sử dụng để kết luận người đó đã tổ chức hoặc chứa chấp.
Trong bài viết này, trách nhiệm hình sự được hiểu là trách nhiệm đối với hành vi bị xác định là tội phạm theo điều luật tương ứng. Hình phạt là biện pháp xử lý mà điều luật quy định đối với người phạm tội, chẳng hạn phạt tù hoặc phạt tiền.
Đối với câu hỏi “sử dụng có bị đi tù không”, căn cứ trực tiếp là các trường hợp được liệt kê tại Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015, chứ không phải chỉ tên chất hoặc cách thức sử dụng.
Khi nào sử dụng trái phép chất ma túy bị xử lý hình sự?
Người thực hiện hành vi bị xử lý theo Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 khi thuộc trường hợp về cai nghiện, điều trị thay thế hoặc quản lý được điều luật xác định. Khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 quy định mức phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.

Câu luật trực tiếp quy định:
“Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:”
Căn cứ: khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015.
Các trường hợp cần đối chiếu gồm:
- Người đó đang trong thời hạn cai nghiện hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015.
- Người đó đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015.
- Người đó đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015.
- Người đó đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, theo điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015.
Ở trường hợp sau khi hết quản lý sau cai, từ “và” cần được đọc đúng: điều luật gắn đồng thời mốc thời gian sau quản lý và tình trạng đang bị quản lý người sử dụng. Không nên bỏ qua một trong các điều kiện này khi đối chiếu hành vi.
Đối với trường hợp tự ý chấm dứt cai nghiện hoặc điều trị thay thế, cần làm rõ có việc tự ý chấm dứt hay không và thời điểm xảy ra. Việc chỉ biết người đó từng cai nghiện chưa đủ để xác định họ thuộc trường hợp nào của điều luật.
Bạn có thể đọc thêm phần giải thích tội sử dụng trái phép chất ma túy để đối chiếu từng tình trạng với hành vi cụ thể.
Sử dụng trái phép chất ma túy bị phạt như thế nào?
Người phạm tội thuộc khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm; trường hợp tái phạm về tội này bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm theo khoản 2 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015. Điều luật không quy định riêng một khoản phạt tiền bổ sung.

Nguyên văn quy định về trường hợp tái phạm là:
“Tái phạm về tội này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.”
Căn cứ: khoản 2 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015.
“Tái phạm” là thuật ngữ liên quan đến việc phạm tội trở lại sau khi đã bị kết án; không nên hiểu đơn giản là cứ sử dụng thêm một lần thì thuộc trường hợp này. Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 không trình bày đầy đủ điều kiện xác định tái phạm, nên việc áp dụng cần được kiểm tra riêng, không suy đoán từ số lần sử dụng.
Ví dụ minh họa (giả định): Một người sử dụng trong thời hạn đang quản lý sau cai nghiện. Nếu hành vi được xác định thuộc điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015, khung phạt tù tương ứng là từ 02 năm đến 03 năm theo khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015.
Khung hình phạt là khoảng mức phạt mà điều luật đặt ra cho một nhóm trường hợp. Khung đó không có nghĩa mọi người cùng bị áp dụng một mức án cụ thể.
Người sử dụng trái phép chất ma túy bị quản lý như thế nào?
Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 viện dẫn tình trạng quản lý theo Luật Phòng, chống ma túy nhưng không quy định đầy đủ thủ tục, nội dung hoặc thời hạn quản lý. Không thể dùng riêng điều luật hình sự này để kết luận toàn bộ cách thức quản lý một người.

Quản lý người sử dụng và quản lý sau cai là các tình trạng được điều luật nhắc đến riêng. Vì vậy, khi xem xét hồ sơ, cần làm rõ người đó đang thuộc tình trạng nào, căn cứ xác định và thời điểm bắt đầu, kết thúc.
Những nội dung nên kiểm tra gồm:
- Giấy tờ thể hiện người đó đang cai nghiện hoặc điều trị bằng thuốc thay thế.
- Giấy tờ xác định tình trạng quản lý sau cai hoặc quản lý người sử dụng.
- Thông tin về việc hoàn thành hay tự ý chấm dứt cai nghiện, điều trị.
- Thời điểm thực hiện hành vi để đối chiếu với thời hạn tương ứng.
Đây là những nhóm thông tin phục vụ việc đối chiếu Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015, không phải danh mục hồ sơ bắt buộc cho một thủ tục hành chính.
Đối với câu hỏi người sử dụng bị tạm giữ tối đa bao lâu để xác định tình trạng nghiện, các điều luật đang được phân tích không quy định thời hạn đó. Không nên lấy thời hạn cai nghiện, quản lý hoặc mức phạt tù để thay cho thời hạn tạm giữ.
Sử dụng trái phép chất ma túy có thể kéo theo trách nhiệm nào khác?
Người sử dụng có thể còn phải được xem xét về hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức hoặc chứa chấp nếu hành vi thực tế đáp ứng điều luật tương ứng. Tuy nhiên, việc đã sử dụng không tự động chứng minh người đó phạm các tội này.
Bảng sau giúp phân biệt phạm vi hành vi, không thay thế việc xác định đầy đủ điều kiện của từng tội:
| Hành vi cần phân biệt | Nội dung cần làm rõ | Điểm cần tránh nhầm |
|---|---|---|
| Sử dụng | Tình trạng cai nghiện, điều trị, quản lý và thời điểm sử dụng | Không đồng nhất mọi trường hợp sử dụng với tội phạm |
| Tàng trữ | Việc cất giữ và mục đích của người thực hiện | Không bỏ qua điều kiện về loại, lượng hoặc tiền sử xử lý |
| Vận chuyển | Việc di chuyển và mục đích của hành vi | Không chỉ dựa vào việc mang theo để kết luận |
| Mua bán | Hành vi mua bán thực tế | Không áp dụng máy móc ngưỡng của tội tàng trữ |
| Tổ chức sử dụng | Hành vi tổ chức cho việc sử dụng | Không đồng nhất với việc chỉ cùng sử dụng |
| Chứa chấp | Việc cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc hành vi chứa chấp khác | Phải phân biệt với tổ chức sử dụng |
Tàng trữ để sử dụng có thể bị xử lý ra sao?
Tàng trữ, hiểu theo cách thông thường là cất giữ, được Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 điều chỉnh khi không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hoặc sản xuất trái phép. Người cất giữ để dùng không vì mục đích sử dụng cá nhân mà đương nhiên nằm ngoài điều luật.
Ví dụ, hành vi tàng trữ Methamphetamine từ 0,1 gam đến dưới 05 gam thuộc trường hợp được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, với mức phạt tù từ 03 năm đến 05 năm theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Ngoài điều kiện về lượng, điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định trường hợp liên quan đến việc đã bị xử phạt hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích. “Chưa được xóa án tích” là tình trạng án tích của lần kết án trước vẫn còn; điều khoản này không quy định thủ tục và điều kiện xóa án tích.
Do đó, khi lượng thu giữ chưa đạt ngưỡng đang được đối chiếu, vẫn cần kiểm tra điều kiện khác mà điều luật nêu, thay vì kết luận ngay rằng không thể bị xử lý.
Tổ chức và chứa chấp khác nhau thế nào?
Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 quy định hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào. Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 quy định việc cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc hành vi chứa chấp khác, với điều kiện không thuộc trường hợp tổ chức sử dụng.
Người tổ chức bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015; người chứa chấp bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm theo khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015.
Với hành vi tổ chức, trường hợp đối với 02 người trở lên hoặc đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc khung phạt tù từ 07 năm đến 15 năm theo điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015.
Với hành vi chứa chấp, trường hợp đối với người dưới 16 tuổi hoặc đối với 02 người trở lên thuộc khung phạt tù từ 07 năm đến 15 năm theo điểm c, điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015.
Các mức xử lý cho thấy cần làm rõ người liên quan đã làm gì, thay vì chỉ căn cứ việc họ có mặt trong cùng một phòng.
Thế nào là phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy?
Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 điều chỉnh hành vi vận chuyển trái phép không nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép, đồng thời thuộc trường hợp mà điều luật liệt kê. Vì vậy, việc xác định mục đích cần đi cùng việc xác định loại và lượng được vận chuyển.
Vận chuyển có thể hiểu theo nghĩa thông thường là đưa vật từ nơi này sang nơi khác; tuy nhiên, cách hiểu thông thường chưa đủ để kết luận tội danh. Nội dung loại trừ về mục đích trong điều luật phải được đối chiếu.
Đối với Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11, lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam thuộc điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, với mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015.
Các khung tiếp theo gồm phạt tù từ 07 năm đến 15 năm theo khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015; từ 15 năm đến 20 năm theo khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015; hoặc 20 năm, tù chung thân theo khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015.
Ví dụ minh họa (giả định): Một người bị phát hiện đang mang theo gói Methamphetamine. Chỉ tình tiết “mang theo” chưa đủ để phân biệt vận chuyển với tàng trữ hoặc mua bán; cần tiếp tục làm rõ hành vi, mục đích và lượng thực tế.
Mua bán trái phép chất ma túy có khác tàng trữ để dùng không?
Hành vi mua bán và tàng trữ được quy định ở các điều luật khác nhau, với điều kiện áp dụng khác nhau. Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 không đặt ra ngưỡng khối lượng ngay trong mô tả hành vi cơ bản như các ngưỡng được liệt kê tại Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Người mua bán trái phép bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015. Không nên lấy ngưỡng lượng của tội tàng trữ để suy ra rằng mua bán dưới ngưỡng ấy thì không bị xử lý.
Các mức phạt tăng theo trường hợp phạm tội:
- Người phạm tội thuộc khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
- Người phạm tội thuộc khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.
- Người phạm tội thuộc khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân.
- Người phạm tội thuộc khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 bị phạt tù chung thân hoặc tử hình.
Chẳng hạn, mua bán Methamphetamine từ 05 gam đến dưới 30 gam thuộc điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015; từ 30 gam đến dưới 100 gam thuộc điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.
Những ngưỡng này cần được đọc theo đúng chất và đúng hành vi. Không thể dùng một mức lượng chung cho mọi loại, mọi dạng hoặc mọi tội danh.
Cần làm rõ những gì khi nhờ luật sư bào chữa?
Người cần tư vấn nên tập trung vào hành vi thực tế, tình trạng cai nghiện hoặc quản lý và căn cứ xác định loại, lượng liên quan. Bào chữa là việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và trình bày các căn cứ liên quan đến việc buộc tội.

Trình tự trao đổi có thể thực hiện như sau:
- Trình bày riêng từng hành vi: sử dụng, cất giữ, di chuyển, giao nhận, mua bán hay bố trí địa điểm.
- Sắp xếp giấy tờ cai nghiện, điều trị, quản lý theo diễn biến thực tế.
- Làm rõ những lần xử lý trước và nội dung bản án, nếu có.
- Đối chiếu từng điều luật, tránh chỉ dựa vào cách gọi ban đầu của người liên quan.
Bản án là văn bản thể hiện phán quyết của Tòa án; nội dung cần xem là hành vi đã bị xét xử và tình trạng pháp lý liên quan, không chỉ tên tội.
Nếu gia đình đồng thời lo lắng về việc bị giữ trong quá trình giải quyết vụ án, có thể tham khảo bài có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố không. Tạm giam là biện pháp giữ người trong quá trình giải quyết vụ án, cần được phân biệt với hình phạt tù.
Câu hỏi thường gặp
Chỉ có kết quả xác định đã sử dụng thì đã đủ kết luận phạm tội chưa?
Chỉ riêng thông tin đã sử dụng chưa thể hiện đầy đủ các điều kiện tại Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015. Cần tiếp tục đối chiếu tình trạng cai nghiện, điều trị, quản lý và thời điểm thực hiện hành vi.
Có thể lấy mức phạt tiền của tội chứa chấp áp dụng cho người chỉ sử dụng không?
Không thể chuyển mức phạt của tội chứa chấp sang tội sử dụng. Khoản 3 Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 quy định khoản tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với người phạm tội chứa chấp, không phải mức phạt chung cho mọi hành vi liên quan.
Tổ chức sử dụng làm chết người có phải luôn là tội giết người không?
Không thể tự động đồng nhất các tội danh chỉ từ hậu quả chết người. Trường hợp tổ chức sử dụng gây chết người được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015.
Nếu cần tìm hiểu riêng về tội danh khác, bạn có thể đọc bài phân tích khung hình phạt tội giết người; việc xác định trong vụ việc cụ thể vẫn phải dựa vào hành vi thực tế.
Có thể dự đoán mức án chỉ từ lượng thu giữ không?
Không nên dự đoán chỉ từ lượng thu giữ. Các Điều 249, 250, 251 và 255 Bộ luật Hình sự 2015 còn phân biệt hành vi, mục đích và các trường hợp phạm tội khác; riêng Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 gắn với tình trạng cai nghiện, quản lý và tái phạm.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 251, Điều 255, Điều 249, Điều 250, Điều 256, Điều 256a
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn và bào chữa
Luật Sư 11 hỗ trợ đối chiếu hành vi, giấy tờ cai nghiện, tình trạng quản lý và thông tin xử lý trước đây để tư vấn hướng xem xét pháp lý. Bạn có thể liên hệ qua luatsu11.vn để trao đổi vụ việc, làm rõ tội danh có thể liên quan và chuẩn bị nội dung bào chữa phù hợp.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 17/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




