Nuôi con nhỏ: nghĩa vụ nghề nghiệp và quyền sau ly hôn

Nuôi con nhỏ: nghĩa vụ nghề nghiệp và quyền sau ly hôn

Nghe bài viết · 13 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Luật sư Nguyễn Thành Huân

Biên tập: Luật Sư 11 · Cập nhật 16/10/2026 · Đọc 13 phút

Chưa đủ căn cứ để kết luận công chứng viên đang nuôi con nhỏ được miễn tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ hằng năm. Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định việc giao con cho mẹ sau ly hôn, không quy định miễn bồi dưỡng nghề nghiệp. Người đọc cần phân biệt quyền chăm sóc con với nghĩa vụ chuyên môn.

Công chứng viên đang chăm sóc con nhỏ có phải bồi dưỡng nghiệp vụ hằng năm không?

Việc công chứng viên đang chăm sóc con nhỏ chưa đủ để xác định người đó được miễn hay vẫn phải tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ hằng năm. Kết luận về nghĩa vụ nghề nghiệp phải dựa trên quy định trực tiếp điều chỉnh hoạt động bồi dưỡng công chứng viên.

Người mẹ mặc áo vest xanh đọc tài liệu chuyên môn bên bàn gỗ, cạnh nôi con nhỏ đang ngủ
Người mẹ vừa ôn tài liệu chuyên môn vừa trông con ngủ

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo quyết định của Tòa án. Trong phạm vi quyền chăm sóc con sau khi chấm dứt hôn nhân, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Căn cứ: khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Quy định này xác định người trực tiếp chăm sóc trẻ sau khi cha mẹ ly hôn. Người trực tiếp chăm sóc là người được thỏa thuận hoặc được Tòa án giao thực hiện việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Quyền trực tiếp chăm sóc trẻ không đồng nghĩa với quyền miễn thực hiện nghĩa vụ chuyên môn. Vì vậy, công chứng viên nên kiểm tra riêng quy định về bồi dưỡng nghiệp vụ và trường hợp được miễn trước khi quyết định không tham gia.

Sau ly hôn, cha mẹ còn những quyền và nghĩa vụ gì với con?

Sau ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thuộc các trường hợp tại khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Việc chấm dứt quan hệ vợ chồng không làm chấm dứt trách nhiệm đối với con.

Người cha quỳ buộc dây giày cho con gái đeo ba lô cam trong công viên buổi chiều
Người cha chăm sóc con gái trong buổi chiều ở công viên

Các trường hợp được điều luật nêu gồm con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Mất năng lực hành vi dân sự là tình trạng pháp lý liên quan đến khả năng tự mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.

Khi trao đổi về quyền nuôi con, cha mẹ cần tách việc lựa chọn người trực tiếp chăm sóc khỏi trách nhiệm chung đối với trẻ. Thỏa thuận nên hướng đến việc bảo đảm trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, thay vì chỉ xác định trẻ sống cùng ai.

Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cho phép vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp chăm sóc cùng nghĩa vụ, quyền của mỗi bên đối với con sau ly hôn.

Tòa án căn cứ vào đâu để giao con cho cha hoặc mẹ?

Tòa án căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con khi cha mẹ không thỏa thuận được người trực tiếp chăm sóc, theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Điều luật không quy định rằng người có thu nhập cao hơn đương nhiên được giao con.

Cha mẹ có thể đối chiếu các tình huống sau:

Tình huốngCách xác định người trực tiếp chăm sócĐiểm cần lưu ý
Cha mẹ thống nhất đượcVợ chồng thỏa thuậnThỏa thuận bao gồm nghĩa vụ, quyền của mỗi bên đối với con
Cha mẹ không thống nhất đượcTòa án quyết địnhQuyết định căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của trẻ
Trẻ thuộc nhóm tuổi được ưu tiên giao cho mẹÁp dụng quy định giao con cho mẹVẫn có ngoại lệ về điều kiện của mẹ hoặc thỏa thuận phù hợp lợi ích của trẻ

Các trường hợp trong bảng được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Đối với con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. “Xem xét nguyện vọng” không có nghĩa là bỏ qua yêu cầu bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của trẻ.

Mẹ đơn thân thuộc hộ nghèo đang nuôi con được trợ cấp bao nhiêu?

Chưa có căn cứ để xác định mức trợ cấp cho mẹ đơn thân thuộc hộ nghèo từ các điều luật được phân tích trong bài. Mức cấp dưỡng tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không phải là mức trợ cấp xã hội.

Trợ cấp xã hội được hiểu là khoản hỗ trợ theo chính sách dành cho đối tượng đáp ứng điều kiện của chính sách đó. Cấp dưỡng là việc đóng góp tiền hoặc tài sản để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.

Theo khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, mức cấp dưỡng được thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của người nhận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì vậy, không thể lấy mức đóng góp của cha hoặc mẹ làm mức trợ cấp dành cho người thuộc hộ nghèo. Hai khoản tiền cần được kiểm tra trên những căn cứ riêng.

Mẹ đơn thân phải đáp ứng điều kiện nào để được hưởng trợ cấp?

Không thể xác định điều kiện hưởng trợ cấp xã hội chỉ từ tình trạng đang một mình chăm sóc con. Các điều luật về quyền chăm sóc trẻ và mức cấp dưỡng không quy định tiêu chí hưởng chính sách này.

Người có nhu cầu nên kiểm tra:

  1. Chính sách trợ cấp đang được đề nghị áp dụng là chính sách nào.
  2. Chính sách đó xác định đối tượng hưởng và điều kiện cụ thể ra sao.
  3. Hoàn cảnh thực tế của người đề nghị có đáp ứng các điều kiện đó hay không.

Danh sách này là hướng kiểm tra thông tin, không phải bộ điều kiện pháp luật để được nhận tiền. Không nên mặc nhiên coi tình trạng đơn thân hoặc thuộc hộ nghèo là đủ để được hưởng một mức hỗ trợ cụ thể.

Hồ sơ nhận trợ cấp của mẹ đơn thân thuộc hộ nghèo gồm những gì?

Chưa có cơ sở để liệt kê thành phần hồ sơ nhận trợ cấp xã hội trong phạm vi các quy định đang được phân tích. Hồ sơ yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận khi ly hôn không thay thế hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp.

Người đề nghị hỗ trợ nên xác minh:

  1. Mẫu đơn áp dụng cho chính sách mình muốn hưởng.
  2. Giấy tờ chứng minh điều kiện hưởng mà chính sách yêu cầu.
  3. Cách nộp và yêu cầu đối với giấy tờ kèm theo.

Không nên tự bổ sung hoặc khẳng định một giấy tờ là bắt buộc khi chưa xác định được quy định tương ứng. Đặc biệt, việc chuẩn bị hồ sơ về quan hệ hôn nhân không tự chứng minh người nộp đủ điều kiện hưởng trợ cấp.

Thủ tục nhận trợ cấp đối với mẹ đơn thân thuộc hộ nghèo thực hiện thế nào?

Chưa đủ căn cứ để xác định nơi tiếp nhận, thời hạn giải quyết hoặc trình tự nhận trợ cấp xã hội. Các nội dung này cần được kiểm tra theo chính sách hỗ trợ cụ thể.

Trước khi nộp hồ sơ, người đề nghị nên làm rõ:

  1. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo chính sách đang áp dụng.
  2. Thành phần hồ sơ và cách thức nộp.
  3. Quy trình xem xét cùng thời hạn giải quyết.
  4. Cách nhận thông báo và khoản hỗ trợ nếu được chấp thuận.

Đây là các nội dung cần xác minh, không phải một quy trình pháp lý đã được xác định. Người đang nuôi con cũng cần phân biệt yêu cầu hưởng trợ cấp với yêu cầu giải quyết cấp dưỡng tại Tòa án.

Mức cấp dưỡng được xác định và thay đổi thế nào?

Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của người nhận, theo khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Nếu không thống nhất được, các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sơ đồ xác định và thay đổi mức cấp dưỡng theo Điều 116
Căn cứ xác định mức cấp dưỡng và khi được thay đổi

Quy định này không ấn định một mức tiền chung hoặc một tỷ lệ thu nhập áp dụng cho mọi gia đình. Khi trao đổi, các bên cần làm rõ cả khả năng đóng góp lẫn nhu cầu thiết yếu của trẻ.

Khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cho phép thay đổi mức cấp dưỡng khi có lý do chính đáng. Việc thay đổi do các bên thỏa thuận; nếu không đạt được thỏa thuận thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ví dụ minh họa (giả định): Cha mẹ đã thống nhất mức đóng góp nhưng sau đó xuất hiện lý do chính đáng để điều chỉnh. Hai bên có thể trao đổi mức mới; nếu không thống nhất, họ yêu cầu Tòa án giải quyết theo khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Trốn nghĩa vụ nuôi con là gì và bị phạt như thế nào?

Chưa thể đưa ra định nghĩa pháp lý hoặc mức phạt cho hành vi “trốn nghĩa vụ nuôi con” từ các điều luật đang được phân tích. Điều 81 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xác định trách nhiệm đối với con và cách giải quyết mức cấp dưỡng, không quy định chế tài cho hành vi này.

Không nên đồng nhất mọi tranh chấp về tiền với hành vi trốn tránh nghĩa vụ. Khi đánh giá một tình huống, cần phân biệt việc chưa thống nhất mức đóng góp, yêu cầu thay đổi mức đóng góp và việc không thực hiện trách nhiệm đã được xác định.

Khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, quyền yêu cầu bảo vệ không đồng nghĩa với việc đã đủ căn cứ kết luận một người bị xử phạt.

Hồ sơ yêu cầu công nhận thỏa thuận khi ly hôn cần gì?

Vợ chồng cùng yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận về con phải có đơn yêu cầu, cùng tài liệu, chứng cứ chứng minh thỏa thuận có căn cứ và hợp pháp. Thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ và chồng cùng đề nghị chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Ba yêu cầu đối với đơn công nhận thuận tình ly hôn theo Điều 396
Yêu cầu về đơn theo Điều 396 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Theo Điều 396 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, cần lưu ý:

  1. Theo khoản 1 Điều 396 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này.
  2. Cả vợ và chồng phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn theo khoản 2 Điều 396 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  3. Người yêu cầu phải gửi kèm tài liệu, chứng cứ chứng minh thỏa thuận có căn cứ và hợp pháp theo khoản 3 Điều 396 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Chứng cứ là thông tin, tài liệu dùng để chứng minh những nội dung cần làm rõ khi Tòa án giải quyết yêu cầu. Các bên không nên chỉ ghi người trực tiếp chăm sóc mà bỏ qua nghĩa vụ, quyền của mỗi bên đối với trẻ.

Câu hỏi thường gặp

Các câu trả lời sau giúp phân biệt quyền chăm sóc trẻ, thỏa thuận của cha mẹ và yêu cầu giải quyết tại Tòa án.

Cha mẹ có thể thỏa thuận khác với việc giao trẻ nhỏ cho mẹ không?

Cha mẹ có thể thỏa thuận khác nếu phù hợp với lợi ích của con theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Thỏa thuận không nên chỉ xuất phát từ sự thuận tiện của người lớn.

Người yêu cầu công nhận thỏa thuận có thể chỉ ký một phía không?

Khi vợ chồng cùng yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận về con, cả hai phải ký tên hoặc điểm chỉ theo khoản 2 Điều 396 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Khoản tiền cha mẹ đóng góp có phải trợ cấp xã hội không?

Khoản cấp dưỡng được xác định theo Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không phải căn cứ để xác định trợ cấp xã hội. Không nên dùng hai khái niệm thay thế cho nhau.

Tòa án có được từ chối vì chưa có điều luật áp dụng không?

Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng, theo khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Điều này không bảo đảm rằng mọi yêu cầu đều được chấp nhận.

Căn cứ pháp lý

  • Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 121/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 81, Điều 116
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 4, Điều 396

Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn quyền và nghĩa vụ nuôi con

Luật Sư 11 hỗ trợ rà soát thỏa thuận chăm sóc trẻ, mức cấp dưỡng và hồ sơ yêu cầu Tòa án giải quyết. Bạn có thể liên hệ để trao đổi hoàn cảnh cụ thể, phân biệt yêu cầu về trách nhiệm của cha mẹ với chính sách trợ cấp hoặc nghĩa vụ nghề nghiệp cần kiểm tra riêng.

Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 16/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button Zalo