Nghe bài viết · 12 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Luật sư Nguyễn Thành Huân
Biên tập: Luật Sư 11 · Cập nhật 15/10/2026 · Đọc 12 phút
Bồi thường là việc bù đắp thiệt hại cho người bị ảnh hưởng. Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm, trừ trường hợp pháp luật quy định khác. Khi yêu cầu, người dân cần xác định đúng người chịu trách nhiệm và từng khoản tổn thất.
Khi nào phát sinh trách nhiệm bồi thường?
Người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản hoặc quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm. Căn cứ trực tiếp là khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015:
“Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015.
Thiệt hại là những tổn thất về tài sản, sức khỏe, tính mạng hoặc lợi ích hợp pháp mà người bị ảnh hưởng phải gánh chịu. Người yêu cầu nên làm rõ:
- Hành vi nào đã xâm phạm quyền, lợi ích của mình.
- Tổn thất cụ thể là gì và có tài liệu nào thể hiện.
- Tổn thất có phải do hành vi đó gây ra hay không.
Đây là cách tổ chức thông tin để đánh giá yêu cầu, không phải danh mục hồ sơ bắt buộc. Nếu tài sản gây thiệt hại, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu tài sản chịu trách nhiệm theo khoản 3 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp được loại trừ tại khoản 2 Điều này. Người chiếm hữu được hiểu là người đang nắm giữ, quản lý tài sản.
Sức khỏe bị xâm phạm thì được yêu cầu những khoản nào?
Người bị xâm phạm sức khỏe có thể yêu cầu chi phí điều trị, phần thu nhập bị mất hoặc giảm sút, chi phí chăm sóc và khoản bù đắp tổn thất tinh thần. Các nhóm khoản này được quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015.

Tổn thất tinh thần là sự đau buồn, lo lắng hoặc ảnh hưởng về mặt tinh thần mà người bị xâm phạm phải gánh chịu. Các khoản cần rà soát gồm:
- Chi phí hợp lý để cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất hoặc giảm sút.
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút của người bị ảnh hưởng.
- Chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị.
- Chi phí chăm sóc thường xuyên nếu người bị ảnh hưởng mất khả năng lao động và cần người chăm sóc.
- Thiệt hại khác do luật quy định.
Nếu thu nhập không ổn định và không thể xác định được, điểm b khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.
Khoản bồi thường về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được, mức tối đa không quá năm mươi lần mức lương cơ sở cho một người theo khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015. Đây là mức tối đa, không phải khoản mặc nhiên được nhận.
Ví dụ minh họa (giả định): Một người bị gây thương tích phải điều trị và nghỉ làm. Người đó có thể tập hợp hóa đơn điều trị, tài liệu về thu nhập và thông tin chăm sóc để làm rõ từng khoản yêu cầu, thay vì chỉ đưa ra một tổng số tiền.
Thiệt hại về tính mạng khác với thiệt hại về sức khỏe ra sao?
Khi tính mạng bị xâm phạm, các khoản được xem xét còn bao gồm chi phí mai táng và tiền cấp dưỡng. Căn cứ xác định là Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015.

Cấp dưỡng là việc hỗ trợ bằng tiền để đáp ứng nhu cầu sống của người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ nuôi dưỡng, hỗ trợ. Có thể phân biệt các nhóm tổn thất như sau:
| Trường hợp | Khoản cần xem xét | Điểm cần làm rõ |
|---|---|---|
| Sức khỏe bị xâm phạm | Điều trị, thu nhập mất hoặc giảm, chăm sóc, tổn thất tinh thần | Chi phí và ảnh hưởng thực tế |
| Tính mạng bị xâm phạm | Khoản liên quan đến sức khỏe, mai táng, cấp dưỡng, tổn thất tinh thần | Người có quyền hưởng từng khoản |
| Tài sản bị hành vi phạm tội xâm phạm | Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc thanh toán tổn thất vật chất | Tài sản bị chiếm đoạt và tổn thất đã xác định |
Khoản tinh thần khi tính mạng bị xâm phạm được ưu tiên cho người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015. Hàng thừa kế là nhóm người được pháp luật xếp theo thứ tự hưởng thừa kế; việc xác định cụ thể ai thuộc nhóm này cần được đối chiếu riêng.
Nếu không có những người thuộc nhóm trên, người được người đã mất trực tiếp nuôi dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng người đã mất được hưởng khoản tinh thần. Khi không thỏa thuận được, mức tối đa không quá một trăm lần mức lương cơ sở cho một người bị xâm phạm tính mạng theo khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015.
Người bị ảnh hưởng được nhận tiền trong thời gian nào?
Thời gian hưởng phụ thuộc vào việc mất khả năng lao động hoặc quan hệ cấp dưỡng. Điều 593 Bộ luật Dân sự 2015 không quy định một thời hạn chung cho mọi khoản bồi thường.

Người mất hoàn toàn khả năng lao động được hưởng từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động đến khi chết, trừ thỏa thuận khác, theo khoản 1 Điều 593 Bộ luật Dân sự 2015.
Người chưa thành niên thuộc diện hưởng cấp dưỡng được hưởng đến khi đủ mười tám tuổi; ngoại lệ là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân, theo điểm a khoản 2 Điều 593 Bộ luật Dân sự 2015.
Người thành niên không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng đến khi chết theo điểm b khoản 2 Điều 593 Bộ luật Dân sự 2015. Với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ khi sinh ra và còn sống theo khoản 3 Điều 593 Bộ luật Dân sự 2015.
Người phạm tội phải khắc phục thiệt hại như thế nào?
Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt, đồng thời sửa chữa hoặc bồi thường tổn thất vật chất đã xác định do hành vi phạm tội gây ra. Nghĩa vụ này được quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015.
Khi hành vi phạm tội gây tổn thất tinh thần, khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 quy định Tòa án buộc người phạm tội thanh toán về vật chất và công khai xin lỗi người bị hại.
Vì vậy, trong vụ việc hình sự, yêu cầu trả lại tài sản cần được phân biệt với yêu cầu thanh toán các tổn thất khác. Người bị ảnh hưởng nên lập danh sách tài sản và khoản tổn thất riêng để tránh bỏ sót hoặc tính trùng.
Thu hồi đất rừng phòng hộ, chủ rừng có được bồi thường không?
Không thể chỉ dựa vào tên loại đất hoặc tư cách chủ rừng để kết luận quyền được thanh toán về đất. Điều 95 Luật Đất đai 2024 yêu cầu xem xét cả nhóm người sử dụng đất và điều kiện giấy tờ trong trường hợp Nhà nước thu hồi vì quốc phòng, an ninh hoặc phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Chẳng hạn, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải đất thuê trả tiền hằng năm thuộc nhóm tại điểm a khoản 1 Điều 95 Luật Đất đai 2024. Người sử dụng đất còn cần đáp ứng một trong các điều kiện tại khoản 2 Điều này, như:
- Có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất phù hợp.
- Có quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
- Có giấy tờ về quyền sử dụng đất làm căn cứ cấp giấy chứng nhận.
- Nhận chuyển quyền hợp pháp nhưng chưa hoàn thành đăng ký.
- Có căn cứ sử dụng đất để xử lý nợ hoặc kết quả đấu giá đáp ứng điều kiện luật định.
Quyền sử dụng đất là quyền của người sử dụng đối với thửa đất; quyền này cần được phân biệt với quyền đối với nhà, cây trồng hoặc tài sản khác trên đất.
Nếu có công trình trên đất, bạn có thể đọc thêm bài nhà xây trái phép bị cưỡng chế có được bồi thường không và bài về chính sách khi nhà xây trái phép bị giải tỏa để đối chiếu tình huống.
Hệ thống AI bị chiếm quyền gây thiệt hại thì ai chịu trách nhiệm?
Người chiếm quyền hệ thống AI và có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác gây tổn thất có thể được xem xét theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015. Tuy nhiên, chưa thể mặc nhiên kết luận chỉ người tấn công phải chịu trách nhiệm.
Cần xác định hành vi gây tổn thất, mối liên hệ với sự cố và chủ thể liên quan. Nếu xem xét trách nhiệm do tài sản gây ra, cần đối chiếu khoản 3 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015.
Tương tự, khi AI không bị tấn công nhưng vẫn gây tổn thất, không thể tự động quy trách nhiệm cho nhà cung cấp hoặc bên triển khai. Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 chưa đủ để kết luận nghĩa vụ phòng ngừa riêng của các bên hoặc xác định việc chiếm quyền AI là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định chuyên biệt nào.
Luật sư làm gì trong vụ bồi thường oan sai?
Luật sư có thể hỗ trợ rà soát diễn biến vụ việc, tài liệu xác định tổn thất và nội dung yêu cầu của người bị ảnh hưởng. Quyền được Nhà nước chi trả phải được đánh giá theo quy định riêng, không thể kết luận chỉ từ Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015.
Khi làm việc với công ty luật, người yêu cầu nên tập hợp quyết định, giấy tờ liên quan đến quá trình xử lý vụ việc và chứng cứ về tổn thất. Bạn có thể tham khảo thêm tình huống được Tòa xử vô tội nhưng trước đó bị khởi tố.
Câu hỏi thường gặp
Các câu trả lời sau giúp phân biệt quyền lợi đã có căn cứ với nội dung cần kiểm tra thêm.
Không xác định được thu nhập thì có mất quyền yêu cầu không?
Không nhất thiết. Điểm b khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép dùng thu nhập trung bình của lao động cùng loại khi thu nhập thực tế không ổn định và không thể xác định.
Đất rừng phòng hộ bị thu hồi trong trường hợp nào?
Điều 95 Luật Đất đai 2024 quy định điều kiện hưởng quyền lợi trong những trường hợp thu hồi được nêu tại điều này, không liệt kê đầy đủ căn cứ thu hồi riêng đối với đất rừng phòng hộ.
Cây trồng trên đất bị thu hồi được tính tiền thế nào?
Điều 95 Luật Đất đai 2024 không quy định cách tính tổn thất đối với cây trồng. Vì vậy, không thể dùng điều này để xác định mức chi trả cho cây.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Dân sự 2015 (còn hiệu lực): Điều 584, Điều 590, Điều 593, Điều 591
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 48
- Luật Đất đai 2024 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 44/VBHN-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 95
Luật Sư 11 hỗ trợ yêu cầu bồi thường
Luật Sư 11 hỗ trợ rà soát căn cứ trách nhiệm, phân loại tổn thất và kiểm tra tài liệu cho từng khoản yêu cầu. Bạn có thể liên hệ để được tư vấn theo tình tiết cụ thể, nhất là khi chưa rõ người phải trả tiền hoặc phạm vi quyền lợi của mình.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 15/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




