Nghe bài viết · 15 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo
Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 30/10/2026 · Đọc 17 phút
Tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân được quy định tại Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015. Người có trách nhiệm tổ chức, giám sát mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác làm sai lệch kết quả có thể bị cải tạo không giam giữ, phạt tù và cấm đảm nhiệm chức vụ.
Tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân được quy định thế nào?
Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015 xử lý hành vi làm sai lệch kết quả của người có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử, tổ chức trưng cầu ý dân. Quy định này xác định cả người thực hiện, hành vi bị xử lý và những hình phạt có thể áp dụng.
Khoản 1 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015 quy định nguyên văn:
“Người nào có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử, tổ chức trưng cầu ý dân mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”
Căn cứ: khoản 1 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015.
Điểm cần nhận diện là sự gắn kết giữa trách nhiệm của người thực hiện với hành vi tác động đến kết quả. Không thể chỉ thấy một giấy tờ có nội dung khác nhau rồi lập tức kết luận có tội phạm. Cần làm rõ giấy tờ đó bị giả mạo hay không, ai thực hiện và việc làm đó có nhằm làm sai lệch kết quả hay không.
Khi xem xét tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân, cũng cần phân biệt việc tác động đến kết quả với việc cản trở công dân thực hiện quyền của mình. Đây là các hành vi được quy định tại những điều luật khác nhau.
Ai có thể bị xử lý về hành vi làm sai lệch kết quả?
Người được khoản 1 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015 xác định là người có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử, tổ chức trưng cầu ý dân. Vì vậy, trách nhiệm thực tế của người bị xem xét là nội dung phải làm rõ trước khi đối chiếu hành vi.
Không nên hiểu rằng bất kỳ người nào liên quan đến cuộc bầu cử hoặc cuộc trưng cầu ý dân đều thuộc phạm vi của quy định này. Việc tham gia một hoạt động và việc có trách nhiệm tổ chức, giám sát hoạt động đó cần được phân biệt.
Để nhận diện đúng người có thể bị xử lý về tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân, cần đối chiếu:
- Người thực hiện có trách nhiệm gì trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử hoặc tổ chức trưng cầu ý dân.
- Người thực hiện đã tác động vào giấy tờ, phiếu hoặc kết quả bằng cách nào.
- Hành vi đó có nhằm làm sai lệch kết quả bầu cử hoặc kết quả trưng cầu ý dân hay không.
- Có trường hợp phải xem xét tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hay không.
Trách nhiệm hình sự ở đây được hiểu là việc người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu sự xử lý về hình sự. Riêng trường hợp mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi do bệnh phải được đối chiếu với Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015, không thể chỉ dựa vào việc người đó có bệnh để kết luận.
Những hành vi nào thuộc phạm vi xử lý?
Khoản 1 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015 nêu các hành vi giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả. Điểm chung là hành vi phải được xem xét trong mối liên hệ với việc làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân.
Giả mạo giấy tờ được nhận diện ra sao?
Giả mạo giấy tờ có thể hiểu là tạo ra giấy tờ giả hoặc làm cho giấy tờ thể hiện nội dung không đúng sự thật. Khi áp dụng Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015, cần gắn việc giả mạo với mục đích làm sai lệch kết quả, thay vì tách riêng một sai khác về giấy tờ để kết luận.
Ví dụ minh họa (giả định): Người có trách nhiệm tổ chức bầu cử lập giấy tờ thể hiện kết quả khác với kết quả thực tế nhằm làm thay đổi kết quả bầu cử. Tình huống này cần được đối chiếu với hành vi giả mạo giấy tờ tại khoản 1 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015.
Gian lận phiếu được hiểu thế nào?
Gian lận phiếu là hành vi gian dối tác động vào phiếu nhằm làm cho kết quả được xác định không đúng. Điều luật nêu tên hành vi nhưng không liệt kê đầy đủ từng cách thức gian lận, nên việc đánh giá phải dựa vào hành vi cụ thể.
Ví dụ minh họa (giả định): Người có trách nhiệm giám sát việc bầu cử thực hiện việc gian lận phiếu nhằm làm thay đổi kết quả. Việc xem xét tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân phải làm rõ trách nhiệm của người đó và cách hành vi tác động đến kết quả.
Dùng thủ đoạn khác có phải lúc nào cũng bị xử lý?
“Dùng thủ đoạn khác” là cách diễn đạt bao quát những cách thức ngoài giả mạo giấy tờ và gian lận phiếu mà điều luật đã nêu. Tuy nhiên, cách thức đó vẫn phải được đặt trong yêu cầu “để làm sai lệch kết quả” tại khoản 1 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015.
Không nên hiểu cụm từ này là căn cứ để quy mọi thiếu sót trong tổ chức, giám sát thành tội phạm. Khi đánh giá một sự việc, cần chỉ ra người thực hiện đã làm gì, có trách nhiệm gì và hành vi hướng đến việc làm sai lệch kết quả như thế nào.
Người phạm tội có thể chịu những hình phạt nào?
Người phạm tội có thể bị cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù; ngoài ra, họ còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định theo Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015. Hình phạt cụ thể phụ thuộc vào trường hợp được áp dụng, không phải mọi vụ việc đều có cùng mức xử lý.
Trường hợp thuộc quy định thông thường
Người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm theo khoản 1 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015.
Cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt được điều khoản này quy định như lựa chọn bên cạnh phạt tù. Phạt tù là hình phạt buộc người bị kết án chấp hành việc giam giữ trong thời hạn được quyết định.
Từ “hoặc” trong quy định cho thấy các hình phạt này là những lựa chọn, không phải yêu cầu áp dụng đồng thời. Vì vậy, nói rằng tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân luôn bị phạt tù là không đúng với nội dung điều luật.
Trường hợp có căn cứ áp dụng mức tù nặng hơn
Nếu phạm tội có tổ chức hoặc dẫn đến phải tổ chức lại việc bầu cử, trưng cầu ý dân, mức phạt tù là từ 01 năm đến 03 năm theo khoản 2 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015.
Khung hình phạt là khoảng hình phạt mà điều luật quy định cho một trường hợp phạm tội. Việc xác định khung áp dụng cần căn cứ vào tình tiết thực tế, không chỉ dựa trên nhận xét rằng hành vi nghiêm trọng.
Khả năng bị cấm đảm nhiệm chức vụ
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 3 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015.
Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định là việc người bị áp dụng không được giữ chức vụ thuộc phạm vi bị cấm. Cụm từ “có thể” cho thấy đây không phải hậu quả tự động áp dụng trong mọi trường hợp phạm tội.
Trường hợp nào bị áp dụng khung hình phạt nặng hơn?
Khoản 2 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015 quy định trường hợp phạm tội có tổ chức và trường hợp dẫn đến phải tổ chức lại việc bầu cử hoặc trưng cầu ý dân. Chỉ cần thuộc một trong các trường hợp được liệt kê, hành vi đã có căn cứ để đối chiếu với khoản này.
Tình tiết định khung là tình tiết được điều luật dùng để xác định khung hình phạt áp dụng. Đối với tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân, không nên tự bổ sung tình tiết ngoài danh sách mà khoản này quy định.
Phạm tội có tổ chức
“Có tổ chức” là tình tiết được nêu tại điểm a khoản 2 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015. Điều khoản này không giải thích cụ thể nội hàm của tình tiết đó, nên không thể chỉ dựa vào việc có nhiều người liên quan để kết luận chắc chắn.
Khi rà soát vụ việc, cần làm rõ sự tham gia và cách phối hợp của từng người. Việc cùng làm việc trong một cơ quan hoặc cùng tham gia một hoạt động chưa tự trả lời được câu hỏi hành vi có thuộc trường hợp điều luật nêu hay không.
Dẫn đến phải tổ chức lại
Điểm b khoản 2 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015 yêu cầu hành vi dẫn đến phải tổ chức lại việc bầu cử hoặc trưng cầu ý dân. Nội dung cần làm rõ là mối liên hệ giữa hành vi làm sai lệch kết quả với việc phải tổ chức lại.
Ví dụ minh họa (giả định): Người có trách nhiệm tổ chức trưng cầu ý dân gian lận phiếu, làm sai lệch kết quả và dẫn đến phải tổ chức lại việc trưng cầu ý dân. Tình huống này thuộc nội dung cần đối chiếu với điểm b khoản 2 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015.
Không nên đồng nhất mọi phản ánh về kết quả với việc “dẫn đến phải tổ chức lại”. Đây là những nội dung khác nhau và phải được kiểm tra riêng.
Người mắc bệnh tâm thần có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
Người thực hiện hành vi trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015. Chỉ riêng thông tin người đó mắc bệnh chưa đủ để kết luận thuộc trường hợp này.
Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là tình trạng bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi ngay khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, theo Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015.
Khi xem xét tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân, cần đối chiếu:
- Người thực hiện có đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác hay không.
- Bệnh có làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi hay không.
- Tình trạng mất khả năng đó có tồn tại trong khi người ấy thực hiện hành vi hay không.
Không nên thay yêu cầu “làm mất khả năng” bằng nhận định chung rằng người đó có sức khỏe không tốt hoặc đang điều trị bệnh. Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 cũng không nêu thủ tục xác định tình trạng bệnh, nên không thể suy ra cách thực hiện thủ tục chỉ từ điều khoản này.
Phân biệt với hành vi cản trở quyền bầu cử, ứng cử như thế nào?
Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015 tập trung vào hành vi làm sai lệch kết quả của người có trách nhiệm tổ chức, giám sát. Điều 160 Bộ luật Hình sự 2015 tập trung vào hành vi cản trở công dân thực hiện quyền bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân.
Cản trở quyền trong phạm vi này là dùng hành vi lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc thủ đoạn khác khiến công dân bị ngăn cản thực hiện quyền mà điều luật bảo vệ.
| Nội dung đối chiếu | Làm sai lệch kết quả | Cản trở công dân thực hiện quyền |
|---|---|---|
| Người thực hiện | Người có trách nhiệm tổ chức, giám sát theo điều luật | Điều luật sử dụng cách diễn đạt “người nào” |
| Hành vi được nêu | Giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc thủ đoạn khác | Lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc thủ đoạn khác |
| Nội dung bị tác động | Kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân | Việc công dân thực hiện quyền bầu cử, ứng cử, biểu quyết |
| Tình tiết riêng cần lưu ý | Dẫn đến phải tổ chức lại việc bầu cử hoặc trưng cầu ý dân | Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; dẫn đến hoãn ngày bầu cử, bầu cử lại hoặc hoãn việc trưng cầu ý dân |
Về hình phạt, người phạm tội theo khoản 1 Điều 160 Bộ luật Hình sự 2015 có thể bị cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Cảnh cáo là hình phạt được điều khoản này liệt kê bên cạnh cải tạo không giam giữ và phạt tù.
Trường hợp thuộc khoản 2 Điều 160 Bộ luật Hình sự 2015 bị phạt tù từ 01 năm đến 02 năm; người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 3 Điều 160 Bộ luật Hình sự 2015.
Vì vậy, việc xác định tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân không thể chỉ dựa vào bối cảnh có bầu cử. Người đọc muốn tìm hiểu rộng hơn có thể tham khảo bài về các loại tội phạm hình sự, nhưng từng hành vi vẫn cần được đối chiếu đúng điều luật.
Cần rà soát gì khi phát hiện dấu hiệu làm sai lệch kết quả?
Người phát hiện dấu hiệu bất thường nên tập trung làm rõ trách nhiệm của người thực hiện, cách thức tác động và nội dung kết quả bị thay đổi. Đây là cách sắp xếp thông tin để đối chiếu Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015, không phải một thủ tục bắt buộc được điều luật quy định.
Có thể rà soát theo trình tự:
- Xác định người liên quan có trách nhiệm tổ chức, giám sát hoạt động nào.
- Phân biệt giấy tờ bị nghi giả mạo, phiếu bị nghi gian lận và những sai khác chưa rõ nguyên nhân.
- Làm rõ hành vi có nhằm làm sai lệch kết quả hay chỉ đang có thông tin phản ánh.
- Kiểm tra có việc phải tổ chức lại hay không và nguyên nhân của việc đó.
- Tách nội dung liên quan đến kết quả khỏi nội dung liên quan đến việc cản trở công dân thực hiện quyền.
Không nên tự sửa giấy tờ để làm cho các bản khớp nhau khi chưa làm rõ nguyên nhân sai khác. Việc giữ nguyên thông tin thực tế giúp quá trình trao đổi, đối chiếu được rõ ràng hơn; đây là khuyến nghị thực hành, không phải thủ tục do Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015 đặt ra.
Các câu hỏi về diễn biến giải quyết vụ án cần được xem xét riêng. Bạn có thể đọc thêm giải đáp về việc có bị tạm giam ngay khi bị khởi tố hay không; nội dung đó không thay thế việc xác định dấu hiệu của hành vi đang được xem xét.
Câu hỏi thường gặp
Các câu trả lời sau tập trung vào những điểm dễ hiểu nhầm khi đọc Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015.
Chỉ có nghi ngờ gian lận thì đã đủ kết luận phạm tội chưa?
Không thể chỉ dựa vào nghi ngờ để kết luận tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân. Cần làm rõ người thực hiện, trách nhiệm của họ và hành vi thuộc phạm vi khoản 1 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015.
Không phải tổ chức lại thì có loại trừ việc xử lý không?
Không. Việc dẫn đến phải tổ chức lại là tình tiết tại điểm b khoản 2 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1 của điều luật không đặt tình tiết này thành yêu cầu chung cho mọi trường hợp.
Có nhiều người tham gia thì chắc chắn là có tổ chức không?
Không thể kết luận như vậy chỉ từ số người tham gia. Điểm a khoản 2 Điều 161 Bộ luật Hình sự 2015 nêu tình tiết “có tổ chức” nhưng không giải thích chi tiết tình tiết này.
Có thể dùng quy trình xử lý tội khác cho vụ việc này không?
Không nên mặc nhiên áp dụng nội dung của một bài tư vấn về hành vi khác. Chẳng hạn, bài viết về quá trình điều tra, truy tố hành vi đánh bạc có phạm vi riêng, không phải căn cứ xác định tội làm sai lệch kết quả bầu cử kết quả trưng cầu ý dân.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 161, Điều 21, Điều 160
Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn hành vi làm sai lệch kết quả bầu cử
Luật Sư 11 hỗ trợ đối chiếu tình tiết, phân biệt hành vi làm sai lệch kết quả với hành vi cản trở quyền của công dân và giải thích phạm vi hình phạt theo quy định. Nếu cần tư vấn cho vụ việc cụ thể, bạn có thể liên hệ qua luatsu11.vn, trình bày rõ trách nhiệm của người liên quan, hành vi bị phản ánh và thông tin hiện có.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 30/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




