Đơn phương ly hôn: Điều kiện, căn cứ và quyền lợi

Đơn phương ly hôn: Điều kiện, căn cứ và quyền lợi

Nghe bài viết · 12 phút · Giọng đọc tạo bằng AI từ giọng Nhà đào tạo

Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 23/10/2026 · Đọc 14 phút

Đơn phương ly hôn là việc vợ hoặc chồng yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ vợ chồng theo điều kiện luật định. Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án giải quyết khi hòa giải không thành và có căn cứ về bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng dẫn đến những hậu quả được luật quy định.

Khi nào Tòa án giải quyết cho đơn phương ly hôn?

Tòa án giải quyết yêu cầu của một bên khi đáp ứng căn cứ tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Việc người còn lại không đồng ý không phải là lý do duy nhất quyết định yêu cầu có được chấp nhận hay không.

Sơ đồ điều kiện Tòa án giải quyết đơn phương ly hôn theo khoản 1 Điều 56
Hòa giải không thành và có căn cứ theo luật định

Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, theo khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, theo khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Người yêu cầu vì vậy cần làm rõ:

  1. Vợ hoặc chồng đã thực hiện hành vi gì, đối chiếu với căn cứ tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  2. Hành vi đó ảnh hưởng thế nào đến quan hệ vợ chồng, theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  3. Vì sao đời sống chung không thể tiếp tục, theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Ngoài trường hợp trên, Tòa án giải quyết cho ly hôn khi vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu, theo khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Trường hợp nào chồng không có quyền yêu cầu ly hôn?

Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Hạn chế này được đặt ra đối với người chồng, không phải quy định tước quyền yêu cầu của người vợ.

Ba trường hợp chồng không có quyền yêu cầu ly hôn theo khoản 3 Điều 51
Hạn chế này được đặt ra đối với người chồng

Cần phân biệt việc không có quyền yêu cầu với việc có quyền yêu cầu nhưng chưa đủ căn cứ được chấp nhận. Chẳng hạn, một người có quyền nộp yêu cầu nhưng nội dung trình bày chưa làm rõ những điều kiện tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Tình huốngĐiểm cần phân biệt
Chồng yêu cầu khi vợ đang có thaiThuộc trường hợp hạn chế quyền yêu cầu của chồng
Vợ yêu cầu khi đang có thaiKhông thuộc hạn chế dành cho chồng
Người yêu cầu chỉ trình bày bất đồng chung chungCần làm rõ căn cứ để Tòa án giải quyết
Người kia không đồng ý chấm dứt quan hệTòa án vẫn xem xét điều kiện luật định

Do đó, trước khi đơn phương ly hôn, người yêu cầu nên kiểm tra riêng quyền yêu cầu và căn cứ giải quyết, tránh coi đây là cùng một vấn đề.

Làm sao chứng minh bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm khi ly hôn đơn phương?

Người yêu cầu cần trình bày hành vi xúc phạm cụ thể và ảnh hưởng của hành vi đó đối với đời sống chung. Việc chỉ ghi “thường xuyên bị xúc phạm” chưa giúp làm rõ mức độ vi phạm theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Người phụ nữ sắp xếp sổ ghi chép, giấy tờ úp mặt và điện thoại trên bàn gỗ trước luật sư
Người phụ nữ sắp xếp tài liệu khi trao đổi với luật sư

Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định vợ chồng phải thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Khoản 4 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và quyền riêng tư trong quá trình giải quyết vụ việc.

Để chuẩn bị nội dung trao đổi với luật sư, người bị xúc phạm có thể:

  1. Ghi lại diễn biến, lời nói, hành động và hoàn cảnh xảy ra sự việc.
  2. Sắp xếp những tin nhắn, tài liệu hiện có liên quan trực tiếp đến hành vi.
  3. Trình bày hậu quả thực tế đối với tinh thần và khả năng tiếp tục cuộc sống chung.
  4. Ghi nhận người biết sự việc để làm rõ diễn biến khi cần.

Đây là gợi ý chuẩn bị thông tin, không có nghĩa mọi tài liệu đều đương nhiên được Tòa án chấp nhận. Khi đơn phương ly hôn, việc thu thập và sử dụng thông tin cũng cần chú ý quyền riêng tư được bảo vệ tại khoản 4 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Có được đơn phương ly hôn khi chồng có con riêng với người khác?

Người vợ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tuy nhiên, việc chồng có con riêng cần được xem xét cùng hoàn cảnh phát sinh và mức độ ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng, không nên mặc nhiên coi đó là căn cứ duy nhất.

“Con riêng” có thể được dùng để nói về người con có trước khi kết hôn hoặc người con phát sinh từ quan hệ với người khác trong thời kỳ hôn nhân. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân, theo khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nếu chồng vi phạm nghĩa vụ chung thủy, người vợ cần làm rõ hành vi và hậu quả theo khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng, theo khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác thuộc hành vi bị cấm tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Người vợ có quyền lợi gì khi chồng có con riêng?

Người vợ có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn và được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư trong quá trình giải quyết. Những quyền này được ghi nhận tại khoản 1 Điều 51 và khoản 4 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Tuy nhiên, không thể từ việc chồng có con riêng mà kết luận người vợ đương nhiên được nuôi con, nhận toàn bộ tài sản hoặc được chia tài sản nhiều hơn. Các điều khoản đang phân tích không quy định cách giải quyết những quyền lợi đó.

Khi chuẩn bị đơn phương ly hôn, người vợ nên tách rõ mong muốn chấm dứt quan hệ, mong muốn về con và yêu cầu liên quan tài sản để được xem xét từng nội dung.

Nếu có nhà đất, việc tìm hiểu chi phí sang tên sổ đỏ từ chồng sang vợ giúp xác định thêm câu hỏi cần trao đổi, nhưng không thay thế việc xem xét quyền tài sản khi ly hôn.

Với đất liên quan hộ gia đình, nội dung về xác nhận nhân khẩu khi làm sổ đỏ hộ gia đình là chủ đề riêng cần phân biệt. Khi dự kiến thực hiện giao dịch, bạn có thể tham khảo thêm nghĩa vụ thuế, lệ phí khi sang tên sổ đỏ, không mặc nhiên áp dụng cho mọi trường hợp chia tài sản.

Có được yêu cầu bồi thường vì bị xúc phạm hoặc vì chồng ngoại tình?

Không thể chỉ dựa vào các quy định về quyền yêu cầu và căn cứ ly hôn để kết luận người bị xúc phạm hoặc bị phản bội chắc chắn được bồi thường. Bồi thường thiệt hại được hiểu là việc bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại; điều kiện và mức bồi thường cần được xem xét theo căn cứ pháp lý phù hợp.

Khoản 4 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ghi nhận việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền riêng tư. Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ghi nhận nghĩa vụ chung thủy, tôn trọng giữa vợ chồng. Tuy nhiên, những quy định này không ấn định điều kiện, khoản tiền hay cách tính bồi thường.

Người muốn đơn phương ly hôn vì các hành vi trên nên phân biệt:

  • Yêu cầu chấm dứt quan hệ vợ chồng được xem xét theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  • Mong muốn được bù đắp thiệt hại cần được đánh giá riêng về hành vi, tổn thất và căn cứ áp dụng.

Việc được giải quyết cho ly hôn không đồng nghĩa với việc tự động được chấp nhận yêu cầu bồi thường.

Ly thân bao lâu thì được yêu cầu đơn phương ly hôn?

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không đặt ra thời gian ly thân tối thiểu để được yêu cầu ly hôn. Người yêu cầu cần làm rõ căn cứ luật định, thay vì chỉ đếm thời gian sống riêng.

Người đàn ông ngồi lặng lẽ trong căn phòng thuê nhỏ bên vali và thùng đồ chưa dỡ
Người đàn ông bắt đầu cuộc sống riêng trong căn phòng nhỏ

Trong cách dùng thông thường, ly thân là tình trạng vợ chồng tách biệt đời sống chung nhưng chưa chấm dứt quan hệ bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu nghề nghiệp, công tác, học tập và các lý do được điều khoản này nêu.

Bởi vậy, sống khác nơi vì công việc không tự chứng minh quan hệ đã trầm trọng. Ngược lại, người chưa từng ra ở riêng vẫn có thể yêu cầu nếu có căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Khi chuẩn bị đơn phương ly hôn, người yêu cầu nên giải thích nguyên nhân tách biệt đời sống và khả năng tiếp tục quan hệ, thay vì chỉ ghi thời điểm bắt đầu ly thân.

Vợ chồng có thể ly thân cùng nhà và quen người khác không?

Việc vẫn ở chung nhà không tự quyết định người vợ hoặc chồng có được ly hôn hay không. Ly thân cũng không làm chấm dứt nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng.

Đối với cách gọi “ly thân cùng nhà”, cần xem thực tế hai người còn duy trì đời sống chung như thế nào, có hành vi vi phạm nghĩa vụ hay không và hậu quả ra sao. Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không lấy việc có cùng địa chỉ làm căn cứ duy nhất.

Với câu hỏi “đang ly thân có được quen người khác”, cần phân biệt giao tiếp xã hội với việc thiết lập quan hệ trái nghĩa vụ chung thủy. Không thể kết luận mọi việc gặp gỡ đều là hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, nghĩa vụ chung thủy vẫn được ghi nhận tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác khi đang có vợ, có chồng bị cấm theo điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nộp yêu cầu ở Tòa án nào, án phí và thời gian ra sao?

Về lãnh thổ, yêu cầu đơn phương ly hôn được xác định theo nguyên tắc Tòa án nơi người bị kiện cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết. Thẩm quyền là phạm vi quyền giải quyết của cơ quan được pháp luật quy định.

So sánh hai cách xác định Tòa án theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39
Thẩm quyền theo lãnh thổ khi đơn phương ly hôn

Bị đơn là người bị kiện; nguyên đơn là người khởi kiện. Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định nguyên tắc nêu trên. Theo điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các bên có thể thỏa thuận bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi người khởi kiện cư trú, làm việc giải quyết.

Người chuẩn bị yêu cầu nên:

  1. Xác định nơi cư trú, làm việc của người còn lại theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  2. Kiểm tra khả năng thỏa thuận bằng văn bản theo điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  3. Làm rõ căn cứ chấm dứt quan hệ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Án phí là khoản tiền phải nộp cho việc giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Các điều khoản nêu trong bài không quy định mức án phí, danh mục hồ sơ đầy đủ hay thời hạn giải quyết, nên chưa thể xác định cụ thể những nội dung đó.

Câu hỏi thường gặp

Các câu trả lời sau giúp phân biệt thêm quyền yêu cầu với căn cứ để Tòa án giải quyết.

Người thân có thể yêu cầu thay người bị bạo lực không?

Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu khi đáp ứng đồng thời điều kiện về bệnh làm mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi và tình trạng bị bạo lực được quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Người thân thích được xác định theo khoản 19 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Người kia chỉ bỏ đi thì có áp dụng trường hợp mất tích không?

Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 áp dụng đối với người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích. Việc chỉ bỏ đi không đồng nghĩa với tình trạng pháp lý này.

Đổi nơi ở có làm thay đổi Tòa án đang giải quyết không?

Tòa án đã thụ lý, tức đã tiếp nhận vụ án để giải quyết, đúng thẩm quyền theo lãnh thổ phải tiếp tục giải quyết dù có thay đổi nơi cư trú trong quá trình giải quyết, theo khoản 3 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ pháp lý

  • Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 121/VBHN-VPQH 2025) (còn hiệu lực): Điều 56, Điều 51, Điều 3, Điều 5, Điều 19
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-VPQH 2026) (còn hiệu lực): Điều 39

Luật Sư 11 hỗ trợ tư vấn đơn phương ly hôn

Luật Sư 11 hỗ trợ bạn rà soát quyền yêu cầu, làm rõ căn cứ chấm dứt quan hệ và xác định những nội dung cần chuẩn bị. Nếu đang cân nhắc đơn phương ly hôn, bạn có thể liên hệ Luật Sư 11 để trao đổi hoàn cảnh cụ thể, nhất là khi có hành vi xúc phạm, quan hệ với người khác hoặc vướng mắc về nơi nộp yêu cầu.

Luật sư Nguyễn Thành Huân

Luật sư Nguyễn Thành Huân, Giám đốc điều hành Công ty Luật sư 11, hơn 15 năm kinh nghiệm tranh tụng và tư vấn về đất đai, nhà ở, thừa kế, hôn nhân gia đình và bào chữa hình sự.

Lĩnh vực: đất đai, nhà ở, thừa kế, hôn nhân gia đình, hình sự

Xem hồ sơ luật sư

Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 23/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button Zalo