Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định như thế nào?

Theo Bộ luật Hình sự, tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định theo từng nhóm tuổi. Cụ thể, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm theo quy định của pháp luật. Trong bài viết này, Luật Sư 11 sẽ phân tích chi tiết các quy định hiện hành và những vấn đề pháp lý cần lưu ý liên quan đến độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Luật Sư 11 phân tích độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật hiện hành

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định như thế nào?

Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được chia thành hai nhóm như sau:

Người từ đủ 16 tuổi trở lên

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi tội phạm, trừ trường hợp Bộ luật Hình sự có quy định khác.

Điều này đồng nghĩa với việc khi đã đủ 16 tuổi, nếu thực hiện hành vi có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì cá nhân đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, việc xử lý vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc riêng dành cho người chưa thành niên nhằm bảo đảm mục đích giáo dục và tạo điều kiện để họ sửa chữa sai lầm.

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp được pháp luật quy định cụ thể. Theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nhóm đối tượng này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê trong luật.

Theo Luật sư Nguyễn Thành Huân, quy định này thể hiện chính sách nhân đạo và định hướng giáo dục của pháp luật hình sự Việt Nam đối với người chưa thành niên. Thay vì xử lý hình sự một cách rộng rãi, pháp luật chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp thật sự cần thiết, khi hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm cao và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội.

Khi xem xét trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ đánh giá hành vi phạm tội mà còn xem xét toàn diện các yếu tố như độ tuổi, mức độ nhận thức, hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống, nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm và khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội.

Quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015 sửa đổi 2017

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật Hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó, người thực hiện hành vi phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được xác định như sau:

  • 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
  • 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;
  • 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
  • 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được tính lại từ đầu, bao gồm:

  • Trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó trên 01 năm tù. Khi đó, thời hiệu đối với tội phạm trước sẽ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.
  • Trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã. Trường hợp này, thời hiệu sẽ được tính lại kể từ thời điểm người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Lưu ý: Không phải mọi tội phạm đều được áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm chiến tranh theo quy định của Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà không phụ thuộc vào thời gian đã trôi qua kể từ khi hành vi phạm tội được thực hiện.

Cách xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và các trường hợp được tính lại thời hiệu

Các tội danh mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị truy cứu hình sự

Theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm được luật quy định cụ thể. Các tội danh bao gồm:

Nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe

Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, pháp luật cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, bao gồm:

  • Tội giết người (Điều 123);
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134);
  • Tội hiếp dâm (Điều 141);
  • Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142);
  • Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144);
  • Tội mua bán người (Điều 150);
  • Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151);
Cách xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và các trường hợp được tính lại thời hiệu

Nhóm tội xâm phạm sở hữu

Bên cạnh các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản khi thuộc trường hợp luật định, gồm:

  • Tội cướp tài sản (Điều 168);
  • Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169);
  • Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170);
  • Tội cướp giật tài sản (Điều 171);
  • Tội trộm cắp tài sản (Điều 173);
  • Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178).
Tội cướp tài sản, trộm cắp, cưỡng đoạt tài sản áp dụng cho người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi

Nhóm tội về ma túy và an ninh xã hội

Đây là nhóm tội phạm có mức độ nguy hiểm cao, ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc gia và an toàn không gian mạng. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội danh sau:

  • Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248);
  • Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249);
  • Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250);
  • Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251);
  • Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252);
  • Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 265);
  • Tội đua xe trái phép (Điều 266);
  • Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm nhằm sử dụng vào mục đích trái pháp luật (Điều 285);
  • Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử (Điều 286);
  • Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử (Điều 287);
  • Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều 289);
  • Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản (Điều 290);
  • Tội khủng bố (Điều 299);
  • Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303);
  • Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304).
Các tội về ma túy và an ninh xã hội người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Người dưới 18 tuổi phạm tội có bị đi tù không?

Người dưới 18 tuổi phạm tội vẫn có thể bị áp dụng hình phạt tù nếu thuộc trường hợp luật định. Tuy nhiên, pháp luật ưu tiên giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập cộng đồng hơn là áp dụng các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc.

Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội

Theo Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi: Việc xử lý hướng đến mục tiêu giáo dục, giúp người phạm tội nhận thức được hành vi sai trái, sửa chữa lỗi lầm và phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội.
  • Ưu tiên xem xét miễn trách nhiệm hình sự: Người dưới 18 tuổi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả do hành vi phạm tội gây ra có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục theo quy định.
  • Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi thật sự cần thiết: Việc xử lý phải căn cứ vào độ tuổi, đặc điểm nhân thân, mức độ nhận thức, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi cũng như yêu cầu phòng ngừa tội phạm.
  • Chỉ áp dụng hình phạt khi các biện pháp khác không còn phù hợp: Tòa án chỉ quyết định hình phạt nếu việc miễn trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục không bảo đảm hiệu quả giáo dục và phòng ngừa.
  • Không áp dụng tù chung thân hoặc tử hình: Người dưới 18 tuổi phạm tội không bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, kể cả khi thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
  • Hạn chế áp dụng hình phạt tù có thời hạn: Hình phạt tù chỉ được áp dụng khi các biện pháp xử lý khác không đạt mục đích giáo dục. Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải áp dụng mức án nhẹ hơn so với người thành niên phạm cùng tội và không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • Không xác định tái phạm đối với người chưa đủ 16 tuổi: Bản án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội không được dùng làm căn cứ để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm trong những lần phạm tội sau.
Phân tích nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội theo Điều 91 Bộ luật Hình sự

Các hình phạt có thể áp dụng đối với người dưới 18 tuổi

Căn cứ Điều 98 Bộ luật Hình sự 2015, người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:

  • Cảnh cáo: Cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không cần thiết phải áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn.
  • Phạt tiền: Theo Điều 99 Bộ luật Hình sự 2015, phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu người đó có thu nhập hoặc tài sản riêng. Mức tiền phạt không quá một nửa mức tiền phạt mà điều luật quy định.
  • Cải tạo không giam giữ: Điều 100 Bộ luật Hình sự 2015 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ có thể áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý; hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng. Thời hạn cải tạo không giam giữ không quá một nửa thời hạn mà điều luật quy định và không bị khấu trừ thu nhập.
  • Tù có thời hạn: Theo Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015, mức phạt tù đối với người dưới 18 tuổi được áp dụng thấp hơn so với người thành niên.
    • Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: nếu điều luật quy định tù chung thân hoặc tử hình thì mức phạt cao nhất không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định.
    • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: nếu điều luật quy định tù chung thân hoặc tử hình thì mức phạt cao nhất không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy định.

Ngoài ra, theo Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015, người dưới 18 tuổi phạm tội không bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình.

Hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam

Trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự

Bên cạnh các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, người dưới 18 tuổi phạm tội còn có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục thay thế.

Để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định này, người dưới 18 tuổi phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

  • Có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • Tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả do hành vi phạm tội gây ra;
  • Thuộc một trong các trường hợp luật định, bao gồm:
    • Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, trừ các tội quy định tại Điều 134, Điều 141, Điều 171 và các Điều 248, 249, 250, 251, 252 Bộ luật Hình sự;
    • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự, trừ các tội quy định tại Điều 123, Điều 134, Điều 141, Điều 142, Điều 144, Điều 150, Điều 151, Điều 168, Điều 171 và các Điều 248, 249, 250, 251, 252 Bộ luật Hình sự;
    • Người dưới 18 tuổi là đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.
  • Người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục.

Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên, cơ quan tiến hành tố tụng có thể miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục như khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhằm tạo điều kiện cho người chưa thành niên sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập xã hội.

Quy định miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo Điều 91 Bộ luật Hình sự

Những vấn đề cha mẹ cần biết khi con chưa đủ 18 tuổi vi phạm pháp luật

Khi con chưa đủ 18 tuổi vi phạm pháp luật, cha mẹ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phối hợp với cơ quan chức năng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của con em mình.

Trách nhiệm của cha mẹ khi con chưa đủ 18 tuổi vi phạm pháp luật

Khi người chưa đủ 18 tuổi vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý trước hết thuộc về chính người thực hiện hành vi vi phạm. Tuy nhiên, cha mẹ cũng có những trách nhiệm nhất định trong việc quản lý, giáo dục và khắc phục hậu quả do con gây ra.

Theo Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015, cha mẹ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra trong trường hợp con không có tài sản hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ bồi thường. Đây là cơ chế nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại, đồng thời đề cao trách nhiệm giám hộ của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Bên cạnh trách nhiệm dân sự, pháp luật còn đặt ra nghĩa vụ quản lý, chăm sóc và giáo dục con cái đối với cha mẹ. Theo Điều 120 Luật Trẻ em 2016 và các quy định có liên quan, cha mẹ cần:

  • Quan tâm, giám sát và định hướng hành vi của con trong quá trình học tập, sinh hoạt và giao tiếp xã hội;
  • Phối hợp với nhà trường, cơ quan chức năng và các tổ chức liên quan trong việc giáo dục, hỗ trợ trẻ sửa chữa sai lầm;
  • Tăng cường giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm đối với hành vi của bản thân và kỹ năng ứng xử trong cuộc sống;
  • Kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện lệch chuẩn hoặc các hành vi có nguy cơ dẫn đến vi phạm pháp luật.
Cha mẹ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và giáo dục khi con chưa thành niên vi phạm pháp luật

Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên

Các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi đòi hỏi phải được giải quyết thận trọng, bảo đảm nguyên tắc lấy giáo dục làm trọng tâm và đặt lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên lên hàng đầu. Trong quá trình đó, luật sư giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội cũng như hỗ trợ gia đình định hướng phương án xử lý phù hợp.

Trong thực tiễn, luật sư có thể đồng hành và hỗ trợ thông qua các hoạt động như:

  • Tư vấn quy định pháp luật hình sự và tố tụng hình sự;
  • Tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra;
  • Thu thập chứng cứ có lợi cho người chưa thành niên;
  • Chứng minh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;
  • Đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục thay thế hoặc miễn trách nhiệm hình sự khi đủ điều kiện;
  • Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên trong suốt quá trình tố tụng.

Theo luật sư Nguyễn Thành Huân, việc có luật sư tham gia ngay từ giai đoạn đầu không chỉ giúp bảo đảm các quyền tố tụng của người chưa thành niên được thực hiện đầy đủ mà còn góp phần xây dựng phương án xử lý phù hợp với độ tuổi, hoàn cảnh và khả năng nhận thức của các em, từ đó hạn chế những ảnh hưởng pháp lý lâu dài đến tương lai sau này.

Dưới góc độ pháp lý, việc xác định đúng độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là căn cứ quan trọng để áp dụng đúng quy định pháp luật và chính sách xử lý đối với người chưa thành niên. Nếu cần tư vấn hoặc hỗ trợ giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến người dưới 18 tuổi trong vụ án hình sự, Luật Sư 11 sẵn sàng đồng hành và đưa ra phương án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button