Luật sư Nguyễn Thành Huân duyệt nội dung · Cập nhật 09/10/2026 · Đọc 20 phút
Ly hôn thuận tình là trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân, thực sự tự nguyện và thống nhất việc tài sản, chăm sóc con. Theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án công nhận khi thỏa thuận bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; việc hai bên cùng ký đơn chưa đủ để được công nhận.
Ly hôn thuận tình cần đáp ứng những điều kiện nào?
Vợ chồng phải thực sự tự nguyện, thống nhất việc tài sản và chăm sóc con, đồng thời bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con. Tòa án xem xét đầy đủ các điều kiện này trước khi quyết định công nhận.

Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xác định cơ sở giải quyết khi vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn. Cụ thể hơn, khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định các điều kiện sau khi hòa giải đoàn tụ không thành:
“a) Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn;
b) Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;
c) Sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con.”— Các điểm a, b, c khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Khi chuẩn bị yêu cầu ly hôn thuận tình, vợ chồng nên kiểm tra lần lượt:
- Sự tự nguyện: Cả hai bên thực sự mong muốn ly hôn, không chỉ ký đơn nhưng còn bất đồng về việc chấm dứt hôn nhân.
- Sự thống nhất: Hai bên đã làm rõ việc chia hoặc không chia tài sản chung và việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
- Nội dung bảo vệ vợ và con: Thỏa thuận không chỉ thuận tiện cho người lớn mà phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con.
Vì vậy, một văn bản có đủ chữ ký không đồng nghĩa với việc Tòa án phải chấp nhận mọi nội dung. Tòa án còn phải xem xét sự tự nguyện và nội dung thỏa thuận.
Ly hôn thuận tình có bắt buộc ra Tòa không?
Vợ chồng cần Tòa án công nhận việc thuận tình ly hôn; việc tự thỏa thuận không thay thế quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, yêu cầu Tòa án giải quyết và việc mỗi người phải trực tiếp có mặt ở từng buổi làm việc là hai câu hỏi khác nhau.
Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 giao Tòa án xem xét, công nhận khi đủ điều kiện. Khoản 2 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 còn quy định Thẩm phán phải tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Hòa giải đoàn tụ là hoạt động giúp vợ chồng xem xét khả năng tiếp tục chung sống trước khi giải quyết yêu cầu ly hôn.
Do đó, không có cơ sở từ các quy định này để khẳng định hai người chỉ cần ký giấy thỏa thuận tại nhà là hoàn tất thủ tục.
Mặt khác, cũng không nên hiểu rằng “có đơn xin vắng mặt” thì đương nhiên được bỏ qua mọi buổi làm việc. Vợ chồng cần trao đổi với Tòa án đang giải quyết về lịch làm việc và việc tham gia của từng bên, thay vì tự suy đoán rằng cả hai đều không cần đến.
Nộp yêu cầu công nhận tại Tòa án nào?
Theo quy định về lãnh thổ, Tòa án nơi một trong hai bên cư trú hoặc làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận. Thẩm quyền theo lãnh thổ là việc xác định Tòa án giải quyết dựa trên địa điểm mà pháp luật quy định.
Điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:
“Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.”
— Điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Khi xác định nơi gửi yêu cầu ly hôn thuận tình, hai bên cần đối chiếu nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng với quy định này.
Cần lưu ý đây là căn cứ xác định thẩm quyền theo lãnh thổ. Điều khoản trên không phải căn cứ đầy đủ để tự kết luận mọi vấn đề về cấp Tòa án hoặc các trường hợp có yếu tố nước ngoài.
Đương sự có được vắng mặt tại buổi hòa giải khi ly hôn thuận tình không?
Không thể kết luận rằng vợ hoặc chồng luôn được vắng mặt tại buổi hòa giải chỉ vì đã nộp đơn đề nghị. Đương sự là người tham gia vụ việc dân sự với tư cách có yêu cầu hoặc có quyền, nghĩa vụ liên quan; trong yêu cầu này, vợ và chồng là những người trực tiếp đề nghị Tòa án giải quyết.
Khoản 2 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:
“Thẩm phán phải tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ; giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.”
— Khoản 2 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Cấp dưỡng được hiểu là việc đóng góp tiền hoặc tài sản để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người có quan hệ gia đình trong trường hợp pháp luật quy định. Điều khoản trên yêu cầu Thẩm phán giải thích trách nhiệm này trong quá trình hòa giải.
Khoản 3 Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có đề cập thỏa thuận liên quan đến đương sự vắng mặt: nếu thỏa thuận ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của người vắng mặt, việc công nhận cần sự đồng ý bằng văn bản của người đó trong trường hợp điều khoản quy định.
Tuy nhiên, quy định này không phải sự cho phép chung để một hoặc cả hai vợ chồng bỏ qua hòa giải đoàn tụ. Người gặp khó khăn khi tham dự nên thông báo rõ lý do, đề nghị Tòa án hướng dẫn và không tự ý bỏ buổi làm việc.
Có được dùng đơn xét xử vắng mặt để không đến Tòa không?
Đơn đề nghị xét xử vắng mặt không phải căn cứ để mặc nhiên bỏ qua thủ tục hòa giải, công nhận thỏa thuận. Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định sự có mặt tại phiên tòa, không trực tiếp quy định việc vắng mặt tại buổi hòa giải đoàn tụ.
Phiên tòa là buổi xét xử vụ án của Tòa án; cần phân biệt hoạt động này với việc hòa giải và giải quyết yêu cầu công nhận thỏa thuận.
Theo khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nếu có người vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Khoản 2 của điều này quy định cách xử lý khi triệu tập hợp lệ lần thứ hai, tùy tư cách tham gia và lý do vắng mặt.
Nếu yêu cầu ly hôn thuận tình đã chuyển sang giải quyết bằng vụ án theo khoản 5 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, cần xem xét quy định về việc tham gia phiên tòa áp dụng cho trường hợp này. Không nên áp dụng máy móc Điều 227 để cho rằng mọi buổi làm việc trước đó đều có thể vắng mặt.
Quyền nuôi con cần được thỏa thuận như thế nào?
Vợ chồng cần thống nhất người trực tiếp nuôi con và quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau ly hôn. Thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi của con, không chỉ thể hiện mong muốn của cha hoặc mẹ.

Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên. Khi không thống nhất được, Tòa án quyết định dựa trên quyền lợi về mọi mặt của con; với con từ đủ 07 tuổi, phải xem xét nguyện vọng của con.
Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
— Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Trong ly hôn thuận tình, hai bên nên làm rõ ít nhất:
- Ai trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Quyền, nghĩa vụ của mỗi người đối với con sau ly hôn.
- Nội dung trách nhiệm cấp dưỡng mà hai bên thống nhất.
Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng xác định cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con sau ly hôn trong những trường hợp điều luật nêu. Việc một người trực tiếp nuôi con không có nghĩa người còn lại không còn trách nhiệm với con.
Các điều khoản được dẫn không quy định một mức cấp dưỡng cố định, nên không thể từ đó xác định một số tiền chung cho mọi gia đình.
Hồ sơ ly hôn thuận tình bao gồm những giấy tờ gì?
Các điều khoản đang được viện dẫn không liệt kê đầy đủ giấy tờ bắt buộc của hồ sơ. Vì vậy, không thể dùng riêng những quy định này để xác nhận một danh mục hồ sơ hoàn chỉnh hoặc yêu cầu về bản chính, bản sao.
Dù vậy, vợ chồng có thể chuẩn bị trước thông tin và nội dung cần trao đổi, bám sát Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, điểm h khoản 2 Điều 39 và khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
- Thông tin của hai bên: Nội dung xác định người yêu cầu và nơi cư trú, làm việc để xem xét Tòa án theo lãnh thổ.
- Ý chí ly hôn: Nội dung thể hiện cả hai thực sự tự nguyện.
- Thỏa thuận về con: Người trực tiếp nuôi và quyền, nghĩa vụ của cha mẹ.
- Thỏa thuận về tài sản chung: Hai bên chia hoặc không chia tài sản chung như thế nào.
- Những điểm chưa thống nhất: Nội dung còn bất đồng cần được nhận diện trước khi gửi yêu cầu.
Danh sách này là hướng chuẩn bị nội dung, không phải danh mục giấy tờ bắt buộc. Đối với hồ sơ ly hôn thuận tình cụ thể, hai bên nên xác nhận yêu cầu giấy tờ với Tòa án tiếp nhận, tránh mặc nhiên coi một danh sách trên mạng là đủ cho mọi trường hợp.
Thủ tục hòa giải và công nhận được thực hiện ra sao?
Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định việc hòa giải đoàn tụ và cách xử lý tùy kết quả. Khi hòa giải không thành, Tòa án chỉ công nhận thỏa thuận nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định.

Quy trình theo điều luật có thể hiểu qua các bước:
- Xem xét thông tin cần thiết: Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn, trước khi hòa giải, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em nếu thấy cần thiết.
- Hòa giải đoàn tụ: Thẩm phán giải thích quyền, nghĩa vụ gia đình, trách nhiệm cấp dưỡng và các nội dung liên quan.
- Xác định kết quả: Tòa án xem xét vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục yêu cầu ly hôn và có thống nhất nội dung hay không.
- Ra quyết định hoặc chuyển cách giải quyết: Kết quả phụ thuộc sự tự nguyện và nội dung thỏa thuận.
Các tình huống chính được phân biệt như sau:
| Tình huống | Hướng xử lý theo quy định | Căn cứ |
|---|---|---|
| Sau hòa giải, vợ chồng đoàn tụ | Đình chỉ giải quyết yêu cầu | Khoản 3 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 |
| Hòa giải không thành, đáp ứng đủ điều kiện | Công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận | Khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 |
| Hòa giải không thành, không thống nhất việc tài sản hoặc chăm sóc con | Đình chỉ việc dân sự, thụ lý vụ án để giải quyết | Khoản 5 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 |
| Có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con | Tòa án giải quyết việc ly hôn | Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 |
Đình chỉ là việc Tòa án quyết định dừng giải quyết yêu cầu hoặc vụ việc theo trường hợp pháp luật quy định. Thụ lý là việc Tòa án tiếp nhận vụ việc để giải quyết theo thủ tục tương ứng.
Thời gian ly hôn thuận tình có phải chỉ 07 ngày không?
Không thể hiểu toàn bộ thủ tục chỉ kéo dài 07 ngày. Mốc 07 ngày tại khoản 1 Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được tính từ ngày lập biên bản hòa giải thành, không phải từ ngày gửi hồ sơ.
Khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 dẫn chiếu Điều 212 khi ra quyết định công nhận. Khoản 1 Điều 212 quy định:
“Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.”
— Khoản 1 Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Điều khoản này còn quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải gửi quyết định cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
Hai mốc trên có điểm bắt đầu khác nhau. Các điều khoản được dẫn không xác định toàn bộ thời gian từ lúc nộp yêu cầu đến khi hoàn tất, nên không có cơ sở hứa thời hạn cố định cho mọi hồ sơ ly hôn thuận tình.
Ly hôn thuận tình sẽ chuyển thành ly hôn đơn phương khi nào?
Theo khoản 5 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi hòa giải đoàn tụ không thành và các bên không thống nhất việc tài sản hoặc chăm sóc con, Tòa án chuyển sang giải quyết bằng vụ án. Cách diễn đạt chính xác của điều luật là đình chỉ việc dân sự và thụ lý vụ án, thay vì chỉ gọi chung là “chuyển sang đơn phương”.
Việc dân sự trong trường hợp này là yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận; vụ án là hình thức giải quyết khi cần xử lý những nội dung chưa thống nhất.
Tòa án không phải thông báo việc thụ lý vụ án và không phải phân công lại Thẩm phán. Sau đó, vụ án được giải quyết theo thủ tục chung của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Ví dụ minh họa (giả định): Hai vợ chồng đều muốn ly hôn nhưng sau hòa giải vẫn bất đồng về người trực tiếp nuôi con. Tòa án không thể chỉ dựa vào việc cả hai đồng ý chấm dứt hôn nhân để công nhận toàn bộ yêu cầu; trường hợp này thuộc hướng xử lý tại khoản 5 Điều 397.
Ngoài ra, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định Tòa án giải quyết việc ly hôn nếu thỏa thuận không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con.
Ai phải nộp án phí khi ly hôn thuận tình?
Các điều khoản được viện dẫn không quy định người phải nộp, mức tiền hoặc cách phân chia nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí. Án phí là khoản tiền phải nộp trong việc giải quyết vụ án; lệ phí Tòa án là khoản thu đối với việc giải quyết yêu cầu thuộc trường hợp pháp luật quy định.
Vì thiếu quy định trực tiếp về khoản thu, không thể kết luận vợ chồng bắt buộc chia đôi, một bên phải nộp toàn bộ hoặc đưa ra một mức tiền cụ thể.
Người làm thủ tục ly hôn thuận tình nên làm rõ với Tòa án:
- Khoản phải nộp là án phí hay lệ phí.
- Ai phải thực hiện nghĩa vụ nộp.
- Số tiền, nơi nộp và thời hạn nộp.
- Giấy tờ cần lưu sau khi hoàn thành.
Những nội dung này giúp tránh nhầm lẫn giữa thỏa thuận nội bộ của vợ chồng và nghĩa vụ nộp tiền được xác định trong quá trình giải quyết.
Có được ủy quyền toàn bộ trong thủ tục ly hôn thuận tình không?
Không thể khẳng định được hoặc không được ủy quyền toàn bộ chỉ dựa vào các điều khoản đã dẫn. Ủy quyền là việc một người giao cho người khác thực hiện công việc trong phạm vi xác định thay mình.
Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có nhắc đến người đại diện tại phiên tòa. Tuy nhiên, việc điều luật đề cập người đại diện không đủ để suy ra rằng vợ chồng có thể giao toàn bộ việc ly hôn cho người khác.
Đồng thời, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 yêu cầu hai bên thực sự tự nguyện. Vì vậy, không nên coi việc thuê người hỗ trợ hồ sơ đồng nghĩa với việc người đó được thay vợ hoặc chồng thể hiện toàn bộ ý chí ly hôn.
Người cần hỗ trợ nên phân biệt công việc chuẩn bị nội dung, theo dõi hồ sơ với việc trực tiếp bày tỏ ý chí và tham gia thủ tục.
Văn bản ủy quyền cần bảo đảm những điều kiện gì?
Các điều khoản đang được viện dẫn không quy định điều kiện về hình thức, chữ ký hoặc việc xác nhận văn bản ủy quyền. Do đó, chưa có cơ sở xác định một mẫu văn bản là hợp lệ cho toàn bộ thủ tục.
Trước khi lập văn bản liên quan đến ly hôn thuận tình, người dự định ủy quyền nên làm rõ công việc muốn giao, phạm vi thực hiện và liệu công việc đó có được thực hiện thông qua người khác hay không.
Đây là bước kiểm tra trước khi sử dụng văn bản, không phải khẳng định rằng ghi đủ các nội dung trên thì văn bản tự động có hiệu lực. Cũng không nên suy luận rằng việc xác nhận văn bản luôn làm cho mọi phạm vi ủy quyền trở nên hợp lệ.
Ly hôn thuận tình có cần ra xã/phường xin xác nhận không?
Các điều khoản được dẫn không đặt ra một yêu cầu chung rằng vợ chồng phải xin xác nhận xã/phường trước khi Tòa án công nhận. Tuy nhiên, cũng không thể từ đó kết luận mọi giấy tờ trong mọi hồ sơ đều không cần xác nhận.
Khoản 1 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho phép Thẩm phán tham khảo ý kiến cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em khi cần thiết. Đây là hoạt động của Thẩm phán trong quá trình giải quyết, không đồng nghĩa với nghĩa vụ bắt buộc của vợ chồng phải xin xác nhận trước.
Nếu được yêu cầu bổ sung xác nhận, người nộp hồ sơ nên hỏi rõ nội dung cần xác nhận, mục đích sử dụng và căn cứ của yêu cầu. Cách làm này tránh nhầm giữa xác nhận một thông tin cụ thể với yêu cầu xin xác nhận chung cho việc ly hôn.
Câu hỏi thường gặp
Các câu trả lời dưới đây làm rõ những tình huống thường phát sinh khi vợ chồng đã thống nhất chấm dứt hôn nhân.
Vợ chồng có thể thống nhất không chia tài sản chung không?
Có. Điểm b khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ghi nhận việc thỏa thuận chia hoặc không chia tài sản chung. Các điều kiện khác để được công nhận vẫn phải đáp ứng.
Con từ đủ 07 tuổi có được tự quyết định sống với ai không?
Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 yêu cầu xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi khi Tòa án quyết định người trực tiếp nuôi do cha mẹ không thỏa thuận được. Điều luật không quy định nguyện vọng của con là yếu tố quyết định duy nhất.
Nếu hai người đoàn tụ sau hòa giải thì Tòa án xử lý thế nào?
Theo khoản 3 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của vợ chồng.
Trong 07 ngày sau hòa giải thành, một bên đổi ý thì có được công nhận ngay không?
Khoản 1 Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đặt điều kiện hết 07 ngày mà không có đương sự thay đổi ý kiến. Nếu có người đổi ý, không thể coi điều kiện này đã được đáp ứng để công nhận thỏa thuận ban đầu.
Căn cứ pháp lý
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (còn hiệu lực): Điều 55, Điều 81, Điều 39
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (còn hiệu lực): Điều 397, Điều 212, Điều 39, Điều 227
Luật Sư 11 hỗ trợ ly hôn thuận tình
Luật Sư 11 hỗ trợ bạn rà soát nội dung thỏa thuận về con, tài sản và nhận diện những điểm cần làm rõ trước khi thực hiện thủ tục. Bạn có thể liên hệ Luật Sư 11 để được tư vấn theo hoàn cảnh gia đình, tình trạng hồ sơ và yêu cầu cụ thể của hai bên.
Thông tin mang tính tham khảo, cập nhật đến 09/10/2026. Mỗi vụ việc cần luật sư xem hồ sơ cụ thể.




