Khi nào ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự? Ai có thẩm quyền khiếu nại?

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được ban hành khi cơ quan có thẩm quyền xác định vụ việc thuộc một trong các căn cứ không khởi tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vậy khi nào ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, căn cứ pháp lý nào được áp dụng, cơ quan nào có thẩm quyền ban hành quyết định và người không đồng ý với quyết định này có quyền khiếu nại hay không? Hãy cùng Luật sư 11 tìm hiểu chi tiết trong bài viết dưới đây.

Quy định pháp luật về trường hợp không khởi tố vụ án hình sự và quyền khiếu nại
Quy định pháp luật về trường hợp không khởi tố vụ án hình sự và quyền khiếu nại

Khi nào ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự?

Sau khi tiếp nhận tố giác, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh và đánh giá các tài liệu, chứng cứ thu thập được. Trường hợp xác định vụ việc thuộc một trong các căn cứ luật định, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự thay vì khởi tố để điều tra.

Các căn cứ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án hình sự khi thuộc một trong các trường hợp sau:

  1. Không có sự việc phạm tội

Đây là trường hợp sau quá trình xác minh, cơ quan có thẩm quyền kết luận sự việc được tố giác thực tế không xảy ra hoặc thông tin tố giác không đúng sự thật. Nói cách khác, không tồn tại hành vi vi phạm pháp luật hình sự làm căn cứ để khởi tố vụ án.

Ví dụ, một cá nhân trình báo bị mất tài sản và nghi ngờ bị trộm cắp. Tuy nhiên, kết quả xác minh cho thấy tài sản đó chỉ bị thất lạc hoặc do người thân mang đi sử dụng nên không có hành vi chiếm đoạt xảy ra.

  1. Hành vi không cấu thành tội phạm

Trong nhiều trường hợp, hành vi xảy ra trên thực tế có dấu hiệu vi phạm nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Theo quy định pháp luật, một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu về chủ thể, khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Nếu thiếu một trong các yếu tố này thì không đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự.

Ví dụ, hành vi lấy tài sản của người khác nhưng giá trị tài sản không đạt mức tối thiểu để cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự và không thuộc các trường hợp đặc biệt khác theo luật định.

  1. Người thực hiện hành vi chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

  • Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng được luật quy định.

Do đó, nếu người thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không khởi tố vụ án hình sự đối với họ.

  1. Người thực hiện hành vi đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật

Quy định này xuất phát từ nguyên tắc một người không bị xét xử hoặc kết án hai lần vì cùng một hành vi phạm tội.

Nếu hành vi đã được Tòa án xét xử bằng bản án có hiệu lực pháp luật hoặc đã được cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết bằng quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực thì không được tiếp tục khởi tố lại vụ án đó, trừ các trường hợp đặc biệt theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự khi đã có bản án có hiệu lực pháp luật
Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự khi đã có bản án có hiệu lực pháp luật
  1. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là khoảng thời gian do pháp luật quy định mà khi hết thời gian đó, người thực hiện hành vi phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa.

Theo khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được xác định như sau:

  • 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
  • 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;
  • 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
  • 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Tuy nhiên, việc áp dụng căn cứ này còn phải xem xét các trường hợp tính lại thời hiệu hoặc các trường hợp không áp dụng thời hiệu theo quy định của Bộ luật Hình sự.

  1. Tội phạm đã được đại xá

Đại xá là quyết định đặc biệt do Quốc hội ban hành nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với một hoặc một số loại tội phạm trong những thời điểm nhất định. Khi hành vi phạm tội thuộc trường hợp đã được đại xá, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không khởi tố vụ án hình sự. Nếu vụ án đã được khởi tố trước đó thì phải đình chỉ theo quy định của pháp luật.

  1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết

Mục đích của việc khởi tố, điều tra và xét xử là xác định trách nhiệm pháp lý của người thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, khi người thực hiện hành vi đã chết thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự về nguyên tắc không còn ý nghĩa.

Tuy nhiên, pháp luật vẫn cho phép xem xét vụ việc trong trường hợp cần tái thẩm nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan.

  1. Một số tội danh chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại

Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, một số tội danh chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại. Nếu bị hại hoặc người đại diện hợp pháp không yêu cầu khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không khởi tố vụ án hình sự.

Các tội danh áp dụng cơ chế này bao gồm một số trường hợp thuộc:

  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
  • Tội hiếp dâm
  • Tội cưỡng dâm
  • Tội làm nhục người khác
  • Tội vu khống

Theo Luật sư Nguyễn Thành Huân, đây là nhóm tội phạm có tính chất xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích cá nhân của bị hại. Vì vậy, pháp luật trao cho bị hại quyền quyết định có yêu cầu xử lý hình sự hay không nhằm bảo đảm sự tôn trọng ý chí của người bị xâm hại trong một số trường hợp nhất định.

Các tội danh chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Các tội danh chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Thủ tục ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi xác định có một trong các căn cứ không khởi tố nêu trên, người có thẩm quyền phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Sau khi ban hành quyết định, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm:

  • Thông báo rõ lý do không khởi tố cho cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố;
  • Gửi quyết định không khởi tố cùng các tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm ra quyết định;
  • Chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền khác nếu vụ việc có dấu hiệu vi phạm hành chính hoặc cần được giải quyết theo thủ tục pháp lý khác.

Trong trường hợp không đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm vẫn có quyền khiếu nại theo trình tự, thủ tục được quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Quy trình ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và trách nhiệm thông báo cho người tố giác
Quy trình ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và trách nhiệm thông báo cho người tố giác

Cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự?

Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự được quy định tại Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Theo đó, tùy thuộc vào tính chất vụ việc và cơ quan đang thụ lý, việc ra quyết định khởi tố có thể thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Cụ thể, các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự bao gồm:

Cơ quan điều tra

Cơ quan điều tra là chủ thể có thẩm quyền khởi tố đối với hầu hết các vụ việc có dấu hiệu tội phạm. Sau khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, nếu có căn cứ xác định hành vi có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Theo Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, một số cơ quan chuyên ngành được trao quyền khởi tố vụ án hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, bao gồm:

  • Bộ đội Biên phòng;
  • Hải quan;
  • Kiểm lâm;
  • Cảnh sát biển;
  • Kiểm ngư;
  • Một số cơ quan khác trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Việc trao thẩm quyền này giúp kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm xảy ra trong lĩnh vực quản lý chuyên ngành hoặc tại khu vực biên giới, vùng biển và các địa bàn đặc thù.

Viện kiểm sát

Viện kiểm sát có quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường hợp sau:

  • Hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
  • Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố;
  • Trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
  • Thực hiện việc khởi tố theo yêu cầu của Hội đồng xét xử.

Hội đồng xét xử

Trong quá trình xét xử vụ án, nếu phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội chưa bị xử lý, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 4 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự theo Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự theo Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Ai có thẩm quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự?

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự không phải là quyết định cuối cùng và vẫn có thể được xem xét lại thông qua thủ tục khiếu nại.

Căn cứ khoản 2 Điều 158, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, những chủ thể có quyền và lợi ích bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định không khởi tố vụ án hình sự đều có quyền thực hiện khiếu nại theo trình tự luật định.

Chủ thể có quyền khiếu nại

Các cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức sau đây có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự:

  • Người tố giác tội phạm;
  • Người báo tin về tội phạm;
  • Cơ quan, tổ chức kiến nghị khởi tố;
  • Bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • Người có quyền, lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định không khởi tố vụ án;
  • Cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ việc.

Thời hạn khiếu nại

Thời hạn khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Để bảo đảm quyền lợi của mình, người khiếu nại nên thực hiện thủ tục khiếu nại trong thời hạn luật định và chuẩn bị đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ.

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự do Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban hành, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét và giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.

Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu, người khiếu nại có thể tiếp tục khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền cấp trên trực tiếp để được xem xét theo thủ tục luật định.

Quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Kết quả giải quyết khiếu nại

Sau khi kiểm tra hồ sơ, tài liệu và căn cứ pháp lý của vụ việc, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có thể đưa ra một trong các quyết định sau:

  • Giữ nguyên quyết định không khởi tố vụ án hình sự nếu xác định việc giải quyết là đúng quy định pháp luật;
  • Hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu khởi tố vụ án nếu có đủ căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm;
  • Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ khi cần thiết.

Kết quả giải quyết khiếu nại phải được thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại và các cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự chỉ được ban hành khi thuộc một trong các căn cứ luật định theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, người tố giác, báo tin về tội phạm hoặc chủ thể có quyền lợi liên quan vẫn có quyền khiếu nại nếu cho rằng quyết định này chưa phù hợp với quy định pháp luật hoặc chưa phản ánh đầy đủ bản chất vụ việc. Nếu bạn cần tư vấn hoặc hỗ trợ pháp lý liên quan đến quyết định không khởi tố vụ án hình sự, hãy liên hệ Luật sư 11 để được giải đáp và hỗ trợ kịp thời.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now Button