Để xác định một hành vi có cấu thành tội cố ý gây thương tích hay không, không chỉ căn cứ vào việc nạn nhân bị thương mà còn phải xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Bài viết dưới đây của Luật sư 11 sẽ phân tích chi tiết các cấu thành tội cố ý gây thương tích và những căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự trong từng trường hợp.

Cấu thành tội cố ý gây thương tích gồm những yếu tố nào?
Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-VPQH năm 2025), cấu thành tội cố ý gây thương tích được xác định dựa trên bốn yếu tố cơ bản của cấu thành tội phạm, bao gồm:
- Chủ thể: Người từ đủ 14 tuổi trở lên thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Mặt khách quan: Có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, gây ra hậu quả theo luật định và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi với hậu quả. Hành vi có thể được thực hiện bằng hung khí, thủ đoạn nguy hiểm hoặc các phương thức khác làm ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất hoặc tinh thần của nạn nhân.
- Khách thể: Xâm phạm quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người.
- Mặt chủ quan: Người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bao gồm cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.
Chỉ khi hành vi đáp ứng đầy đủ các yếu tố trên và thuộc trường hợp được Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định thì mới đủ căn cứ xác định cấu thành tội cố ý gây thương tích.

Xem thêm: Tội cố ý gây thương tích: Mức phạt tù, tiền theo khung chi tiết và quy định pháp luật.
Phân tích các yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích
Để xác định một hành vi có cấu thành tội cố ý gây thương tích hay không, cần xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Khách thể của tội phạm
Khách thể bị xâm phạm của tội cố ý gây thương tích là quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người.
Mọi hành vi cố ý xâm hại đến sức khỏe hoặc thân thể của người khác trái pháp luật đều xâm phạm đến quan hệ xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, tùy tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả gây ra, người vi phạm có thể bị xử lý hình sự theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích thể hiện ở hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và hậu quả do hành vi đó gây ra.
Hành vi phạm tội có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau như:
- Sử dụng hung khí, vật liệu nổ, chất độc hoặc các thủ đoạn nguy hiểm khác để gây thương tích.
- Thực hiện các hành vi bắt nạt, miệt thị, lăng mạ hoặc tác động khác dẫn đến tổn hại sức khỏe, kể cả sức khỏe tinh thần của người bị hại.
Hậu quả của hành vi có thể là:
- Gây thương tích, làm tổn hại đến thể chất, ảnh hưởng đến khả năng lao động hoặc tính mạng của nạn nhân.
- Gây tổn hại cho sức khỏe, bao gồm cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần.
Để xác định trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng còn xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra.

Đọc thêm: Quy trình tố giác và khởi tố tội cố ý gây thương tích.
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội cố ý gây thương tích là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), người từ đủ 14 tuổi trở lên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích trong những trường hợp luật định. Đồng thời, người thực hiện hành vi phải có năng lực trách nhiệm hình sự, tức có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình tại thời điểm phạm tội.
- Ngoài ra, hành vi phạm tội phải được thực hiện với lỗi cố ý, bao gồm cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Đây là dấu hiệu bắt buộc để xác định trách nhiệm hình sự đối với tội danh này.
Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích được thể hiện ở lỗi cố ý của người phạm tội.
Lỗi cố ý được chia thành hai trường hợp:
- Cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
- Cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nhưng vẫn thực hiện và chấp nhận để hậu quả xảy ra.
Theo Luật sư Nguyễn Thành Huân, khi xem xét cấu thành tội cố ý gây thương tích, cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ căn cứ vào tỷ lệ thương tích mà còn phải đánh giá toàn diện về hành vi, lỗi, công cụ phạm tội, đối tượng bị xâm hại và các tình tiết của vụ án. Đây là cơ sở quan trọng để xác định đúng tội danh, tránh việc truy cứu trách nhiệm hình sự không có căn cứ hoặc bỏ lọt tội phạm.

Khi nào hành vi cố ý gây thương tích bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Căn cứ điều 134 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), người thực hiện hành vi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các dấu hiệu của cấu thành tội cố ý gây thương tích và thuộc một trong các trường hợp luật định sau:
Trường hợp tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên
Trường hợp phổ biến nhất là người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên theo kết luận giám định pháp y.
Trong trường hợp này, nếu có đủ các yếu tố của cấu thành tội cố ý gây thương tích, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Theo Luật sư Nguyễn Thành Huân, tỷ lệ tổn thương cơ thể là căn cứ quan trọng nhưng không phải căn cứ duy nhất để xác định tội phạm. Cơ quan tiến hành tố tụng còn xem xét hành vi, lỗi, công cụ phạm tội và các tình tiết khác của vụ án trước khi quyết định khởi tố.
Trường hợp dưới 11% nhưng vẫn bị truy cứu
Nhiều người cho rằng chỉ khi thương tích từ 11% trở lên mới bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, đây là cách hiểu chưa đầy đủ. Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, hành vi gây thương tích dưới 11% vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp như:
- Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
- Dùng axit nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
- Gây thương tích cho người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu, người không có khả năng tự vệ;
- Gây thương tích đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
- Phạm tội có tổ chức, có tính chất côn đồ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Gây thương tích đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
- Thuê người khác gây thương tích hoặc nhận thuê gây thương tích;
- Tái phạm nguy hiểm hoặc thuộc các trường hợp khác được Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định.

Tham khảo: Xử lý hành vi cố ý gây thương tích có tổ chức như thế nào?.
Mức hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích
Tùy thuộc vào mức độ thương tích, hậu quả xảy ra và các tình tiết định khung, cấu thành tội cố ý gây thương tích có thể bị xử phạt từ cải tạo không giam giữ đến phạt tù chung thân theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Khung hình phạt | Trường hợp áp dụng |
Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm | Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe từ 11% đến 30%; hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp như: dùng hung khí nguy hiểm, a-xít, hóa chất nguy hiểm; đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu; có tổ chức; có tính chất côn đồ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; thuê gây thương tích; đối với người đang thi hành công vụ và các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134. |
Phạt tù từ 02 năm đến 06 năm | Gây thương tích từ 31% đến 60%; gây thương tích cho 02 người trở lên (mỗi người từ 11% đến 30%); phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm; hoặc gây thương tích từ 11% đến 30% nhưng thuộc các tình tiết quy định tại các điểm a đến k khoản 1 Điều 134. |
Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm | Gây thương tích từ 61% trở lên (không thuộc trường hợp khoản 4); gây thương tích cho 02 người trở lên (mỗi người từ 31% đến 60%); gây thương tích từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích cho 02 người trở lên (mỗi người từ 11% đến 30%) nhưng có các tình tiết quy định tại các điểm a đến k khoản 1 Điều 134. |
Phạt tù từ 07 năm đến 14 năm | Làm chết 01 người; gây thương tích làm biến dạng vùng mặt với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; gây thương tích cho 02 người trở lên (mỗi người 61% trở lên); hoặc gây thương tích 61% trở lên, hay gây thương tích cho 02 người trở lên (mỗi người 31% đến 60%) và thuộc các tình tiết quy định tại các điểm a đến k khoản 1 Điều 134. |
Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân | Làm chết 02 người trở lên; hoặc gây thương tích cho 02 người trở lên, mỗi người có tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên và thuộc các tình tiết quy định tại các điểm a đến k khoản 1 Điều 134. |
Cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm | Chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. |
Dấu hiệu pháp lý để phân biệt tội cố ý gây thương tích với các tội danh khác
Trong thực tiễn, cấu thành tội cố ý gây thương tích dễ bị nhầm lẫn với một số tội danh khác do đều liên quan đến hành vi xâm hại sức khỏe hoặc tính mạng của người khác. Việc xác định đúng tội danh phải căn cứ vào mục đích phạm tội, lỗi của người thực hiện, hậu quả xảy ra và các dấu hiệu pháp lý theo Bộ luật Hình sự.
Phân biệt với tội Giết người
Điểm khác biệt quan trọng nhất là ý thức chủ quan của người phạm tội. Nếu mục đích chỉ nhằm gây thương tích thì có thể bị xử lý theo Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngược lại, nếu ngay từ đầu người thực hiện hành vi có ý định tước đoạt tính mạng hoặc để mặc hậu quả chết người xảy ra thì sẽ bị truy cứu về Tội giết người theo Điều 123, dù nạn nhân được cứu sống.
Phân biệt với trường hợp cố ý gây thương tích dẫn đến chết người
Nạn nhân tử vong không đồng nghĩa với việc người gây án luôn bị xử lý về Tội giết người. Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự, người phạm tội vẫn có thể bị xử lý về tội cố ý gây thương tích nếu mục đích ban đầu chỉ nhằm gây thương tích nhưng hậu quả ngoài ý muốn làm nạn nhân tử vong. Khi đó, hành vi có thể thuộc khung hình phạt tăng nặng của Điều 134.
Phân biệt với tội Gây rối trật tự công cộng
Tội gây rối trật tự công cộng được quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự nhằm bảo vệ trật tự, an toàn công cộng. Trong khi đó, cấu thành tội cố ý gây thương tích chủ yếu xâm phạm đến sức khỏe, thân thể của cá nhân.
Trường hợp hành vi đánh nhau nơi công cộng vừa gây thương tích cho người khác, vừa làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự xã hội thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào mục đích, tính chất hành vi và hậu quả thực tế để xác định tội danh phù hợp.

Những trường hợp không cấu thành tội cố ý gây thương tích
Không phải mọi hành vi gây thương tích đều cấu thành tội phạm. Theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), một số trường hợp gây thiệt hại cho sức khỏe người khác nhưng không cấu thành tội cố ý gây thương tích, gồm:
Phòng vệ chính đáng
Theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả cần thiết đối với người đang có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức. Trường hợp này không phải là tội phạm.
Ngược lại, nếu hành vi chống trả vượt quá giới hạn cần thiết, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại thì được xác định là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo khoản 2 Điều 22 và người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tình thế cấp thiết
Theo Điều 23 Bộ luật Hình sự, người gây thiệt hại để tránh một nguy cơ thực tế đang đe dọa lợi ích của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân mà không còn cách nào khác thì không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thiệt hại gây ra nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Ví dụ, để ngăn xe mất phanh lao vào đám đông, tài xế buộc phải đánh lái làm một người bị thương. Trường hợp này có thể được xem xét là tình thế cấp thiết nếu đáp ứng các điều kiện luật định.
Bắt giữ người phạm tội
Theo Điều 24 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi bắt giữ người phạm tội mà buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết để khống chế thì không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu không vượt quá mức cần thiết. Ngược lại, nếu sử dụng vũ lực quá mức, gây thương tích không tương xứng với tính chất hành vi của người bị bắt thì vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.
Cấu thành tội cố ý gây thương tích chỉ được xác định khi hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu theo Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nắm rõ quy định sẽ giúp cá nhân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và lựa chọn hướng xử lý phù hợp khi phát sinh vụ việc. Liên hệ Luật sư 11 để được Luật sư Nguyễn Thành Huân và đội ngũ luật sư tư vấn, hỗ trợ kịp thời về tội cố ý gây thương tích và các vấn đề pháp lý liên quan.



